Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Lịch sử Đức”

Không thay đổi kích thước ,  8 năm trước
n
clean up, replaced: giám mục → Giám mục (6) using AWB
n (clean up, replaced: Giáo Hoàng → Giáo hoàng (11) using AWB)
n (clean up, replaced: giám mục → Giám mục (6) using AWB)
[[Tập tin:Heinrich 4 g.jpg|nhỏ|phải|[[Heinrich IV của đế quốc La Mã Thần thánh|Hoàng đế Heinrich IV]]]]
:''Đọc bài chính về [[nước Đức giữa thời Trung cổ]]''
Năm [[1024]] các [[tuyển hầu]] Đức bầu người [[nhà Sali|Sali]] [[Konrad II (đế quốc La Mã Thần thánh)|Konrad II]] lên làm hoàng đế. Ông thu được [[vương quốc Burgund]] trong năm [[1032]]. Người kế thừa ông, [[Heinrich III (đế quốc La Mã Thần thánh)|Heinrich III]], truất phế ba [[giáo hoàng]] kình địch lẫn nhau, đưa [[Clemens II]] là một người thuộc phe cải tổ lên làm Giáo hoàng và để cho Clemens làm lễ lên ngôi hoàng đế cho ông vào năm [[1046]]. Dưới thời hoàng đế [[Heinrich IV của đế quốc La Mã Thần thánh|Heinrich IV]] cuộc tranh cãi về quyền bổ nhiệm các giámGiám mục bùng nổ lớn vì những người muốn cải cách Nhà Thờ quy tội hoàng đế buôn bán các chức vụ của Nhà Thờ. Heinrich tuyên bố truất phế Giáo hoàng [[Gregor VII]]. Sau đấy Giáo hoàng lại tuyên bố trục xuất Heinrich ra khỏi đạo. Để hủy bỏ việc trục xuất ra khỏi Nhà Thờ này, Heinrich IV đã phải đích thân về đến Canossa (đọc bài [[Chuyến đi Canossa]]). Năm [[1104]] ông lại truất phế Giáo hoàng Gregor và để cho Giáo hoàng [[Clemens III]] làm lễ đăng quang trở thành hoàng đế tại [[Roma]]. Con của ông là [[Heinrich V (đế quốc La Mã Thần thánh)|Heinrich V]] cuối cùng lại liên kết với các quận công chống lại và truất ngôi ông. Một cuộc chiến tranh kéo dài chỉ được tránh khỏi do người cha mất trong năm [[1106]]. Cùng với [[Giáo ước Worms]] (''Wormser Konkordat'') hoàng đế Heinrich V giảng hòa với Nhà Thờ trong năm [[1122]]. Sau khi Heinrich V qua đời, các tuyển hầu đã bầu [[Lothar III (đế quốc La Mã Thần thánh)|Lothar III]] của Suplinburg lên làm vua. Việc dòng họ [[Welf]] nhiều quyền lực ủng hộ Lothar chống lại Friedrich thuộc dòng họ [[Stauf]] đã gây ra cuộc tranh chấp quyền lực kéo dài trong suốt [[thế kỷ 12]] giữa hai dòng họ Welf và Stauf.
 
=== Triều đại Stauf ===
Năm [[1519]] [[Karl V của đế quốc La Mã Thần thánh|Karl V]] thuộc dòng họ Habsburg lên làm vua. Về mặt đối ngoại, ông luôn liên tục vướng bận vào các cuộc chiến tranh chống cự [[Đế quốc Ottoman]] của người [[Thổ Nhĩ Kỳ]] cũng như các cuộc chiến tranh chống lại nước Pháp và [[Giáo hoàng|Giáo Hoàng]]. Vì thế mà vị trí của ông trong vương quốc bị suy yếu, không thể ngăn chặn sự phổ biến của Phong trào Cải cách Kháng Cách. Vào năm [[1529]], vua Thổ Nhĩ Kỳ là [[Suleiman I]] xua đại quân vượt [[sông Donau|sông Danube]] tiến đánh kinh thành Viên. Đại Công tước Áo là Ferdinand tập hợp quân Đức và quân Tây Ban Nha do vua anh Karl V gửi tới để chống trả. Quân Thổ đại bại, vua Suleiman I phải rút quân trở về kinh đô [[Constantinopolis]]. Vào năm 1532, ông ta lại phát động chiến tranh một lần nữa, nhưng phải né tránh mỗi thành Viên.<ref>Harold A. Skaarup, ''Siegecraft - No Fortress Impregnable'', trang 111</ref><ref name="Skaarup112"/>
 
Trong những năm từ [[1522]] cho đến [[1526]] thuyết của Martin Luther được đưa vào trong rất nhiều lãnh thổ và thành phố của Đế Chế. Chính những lãnh chúa là những người đã tiến hành phong trào Cải cách Kháng Cách và qua đó trở thành giámGiám mục của lãnh địa. Người em của hoàng đế, [[Ferdinand I (đế quốc La Mã Thần thánh)|Ferdinand I]], có ý định hủy bỏ sự mặc nhận những người theo thuyết của Luther nhưng đã gặp phải sự phản đối của những lãnh chúa theo đạo [[Tin Lành]].
 
Cuộc sống khó khăn của những người nông dân đã khiến cho họ nhiều lần vùng lên đấu tranh trong [[thế kỷ 15]]. Trong thời gian của phong trào Cải cách Kháng Cách đã có một phong trào khởi nghĩa nông dân kéo dài từ [[1524]] cho đến [[1526]]. Một cuộc khởi nghĩa nông dân dưới sự chỉ huy của [[Thomas Münzer]] đã bị đánh tan vào năm [[1525]] tại [[Bad Frankenhausen]].
Dưới ấn tượng của cuộc Cải cách Kháng Cách, Nhà Thờ Công giáo bắt đầu một cuộc cải cách nội bộ. Thêm vào đó, Phong trào Chống Cải cách Kháng Cách cũng bắt đầu, về một mặt là việc truy tố thông qua [[tòa án dị giáo]], về mặt khác nhiều dòng tu mới thành hình mà trong đó những người theo [[Dòng Tên]] đã đóng vai trò dẫn đầu trong việc tái Công Giáo hóa.
 
Mặc dù vậy chính sách tôn giáo của [[Maximilian II của đế quốc La Mã Thần thánh|Maximilian II]], con trai và là người kế vị của Ferdinand, vẫn mang tính cách tương đối khoan dung trong khi cùng thời gian đó nhiều cuộc chiến tranh tôn giáo đang tàn phá nước Pháp. Ngược lại, con trai của Maximilian, [[Rudolf II của đế quốc La Mã Thần thánh|Rudolf II]], lại ngày càng rời bỏ thực tế thu mình trong dinh điện của mình tại [[Praha]] nên những xung đột về tôn giáo lại tiếp tục tăng lên. Cuộc [[Chiến tranh Köln]] đã bùng nổ khi vị tổng giámGiám mục ở đấy chuyển sang đạo Tin Lành và sự kháng cự chống lại chính sách cai trị mang tính Công Giáo khắc khe của triều đại Habsburg Tây Ban Nha tại Hà Lan, lúc đấy thuộc trong lãnh địa của đế quốc La Mã thần thánh, ngày càng tăng cao.
 
Năm [[1608]] các hầu tước Tin Lành liên kết với nhau dưới sự lãnh đạo của [[Friedrich của Pfalz]], thành lập [[Liên minh Tin Lành]] (''Protestanische Union'') và tương tự, năm [[1609]] các hầu tước Công Giáo đã thành lập [[Liên đoàn Công Giáo]] (''Katholische Liga'') dưới sự lãnh đạo của Công tước Bayern [[Maximilian I (Công tước Bayern)|Maximilian I]].
Tổng thống Đế chế Paul von Hindenburg bổ nhiệm Adolf Hitler vào cương vị Thủ tướng Đế chế vào ngày [[30 tháng 1]] năm [[1933]], việc đánh dấu sự kết thúc của Cộng hòa Weimar và bắt đầu chế độ độc tài của [[Chủ nghĩa Quốc xã|Chủ nghĩa Xã hội Quốc gia]], một biến thể của [[Chủ nghĩa phát xít|Chủ nghĩa Phát xít]]. Hindenburg giải thể Quốc hội Đế chế và tổ chức bầu cử mới. Sau [[Vụ cháy Quốc hội Đế chế]] vào ngày [[28 tháng 2]] năm [[1933]], Pháp lệnh khẩn cấp của Tổng thống Đế chế Hindenburg đã hạn chế các quyền cơ bản. Đảng Cộng sản Đức bị cấm hoạt động và nhiều đảng viên đã bị bắt giam. Cái gọi là [[Đạo luật Toàn quyền]] (''Ermächtigungsgesetz'') trao cho chính phủ thẩm quyền ban hành luật pháp không hạn chế. Chỉ sau đấy một thời gian ngắn, các đảng phái dân chủ còn lại cũng bị cấm hoạt động nếu như không tự giải tán. Các trại tập trung đầu tiên dùng để giam giữ các nhân vật chống đối Chủ nghĩa Xã hội Quốc gia, đặc biệt là những người Cộng sản và Xã hội Dân chủ, được thành lập.
 
Trong những tháng kế tiếp theo đó, các tiểu bang còn lại cũng như là giới báo chí và công đoàn đều bị đồng bộ hóa. Việc tẩy chay các cửa hàng của người Do Thái và khai trừ nhân viên nhà nước là người Do Thái bắt đầu trong tháng 4. Trong tháng 6 và tháng 7 các nhà thờ [[Tin Lành]] được kết hợp lại thành Nhà thờ Đế chế dưới sự lãnh đạo của một tổng giámGiám mục đế chế. Những người được gọi là người Ki tô giáo Đức tuyên truyền cho một [[Sách Phúc Âm|Phúc Âm]] "không có người Do Thái" và cho sự "phục tùng lãnh tụ".
 
Trong tháng 9 đã thành hình một phong trào chống đối trong nội bộ của nhà thờ Tin Lành: Liên minh mục sư (''Pfarrernotbund''). Thành viên của liên minh này là những người Tin Lành không tán thành với sự can thiệp của nhà nước vào nhà thờ Tin Lành và một phần cũng không tán thành Chủ nghĩa Xã hội Quốc gia ([[Dietrich Bonhoeffer]], [[Martin Niemöller]], [[Gustav Heinemann]] và nhiều người khác). Nước Đức ký kết với [[Tòa Thánh|Tòa thánh Vatican]] một giao ước bảo đảm vị trí của các giámGiám mục công giáo trong nước Đức và trên thực tế là bảo đảm việc nhà thờ công giáo không phê bình Chủ nghĩa Xã hội Quốc gia.
 
Năm [[1934]] nền tư pháp bị đồng bộ hóa. Sau cái được cho là vụ [[Đảo chính Röhm]], Hitler cũng đã bóp ngẹt tất cả các phe đối lập có thể có ngay trong nội bộ của Đảng Công nhân Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa bằng nhiều cuộc ám sát mang tính chính trị – người thủ tướng đế chế tiền nhiệm [[Kurt von Schleicher]] cũng đã bị giết chết cùng với vợ của ông – và tước quyền lực của lực lượng [[SA]] có lợi cho quân đội. Ngoài ra, sau cái chết của Hindenburg vào ngày [[2 tháng 8]] Hitler cũng đã được bổ nhiệm vào cương vị "lãnh tụ", thủ tướng đế chế và tổng chỉ huy quân đội. Quân đội đế chế phải tuyên thề phục tùng Hitler. Nhân viên nhà nước cũng phải tuyên thệ phục tùng "lãnh tụ" vì thế mà giới trí thức chống đối chế độ đã mất việc làm.
Bên cạnh đó là việc giết tập thể những người thuộc các chủng tộc khác mà theo hệ tư tưởng Quốc Xã là người hạ cấp, đặc biệt là người Ba Lan, người Nga và người Roma.
 
Ngay trước cuộc diệt chủng người Do Thái dưới hình thức công nghiệp hóa sau Hội nghị Wannsee, với cái gọi là [[Chiến dịch T4]] trong khuôn khổ của chương trình "hủy diệt đời sống không có giá trị", những người Quốc Xã đã thử nghiệm phương pháp giết người bằng khí độc ở rất nhiều nhóm người trong những năm từ 1939 đến 1941. Nạn nhân của "chương trình" này là khoảng 100.000 người bị tật nguyền về cơ thể, tâm lý hay thần kinh trong nhiều nhà thương tật nguyền ở Đức. Chỉ nhờ vào hoạt động công khai của giámGiám mục Công giáo thành phố [[Münster]] [[Clemens August Graf von Galen]] chống lại việc giết những người tật nguyền mà cuối cùng chương trình này đã được chấm dứt.
 
Từ năm 1939 quân đội Đồng minh bắt đầu dội bom các thành phố Đức, qua đó khoảng 760.000 thường dân đã tử vong. Từ cuối năm [[1944]] rất nhiều người Đức đã trốn chạy khỏi các vùng đất phía đông trước khi hồng quân tiến vào. Quân đội Xô viết đã chiếm lĩnh nhiều vùng đất Nam Âu trong năm 1944. Vào ngày [[6 tháng 6]] quân đội Đồng minh đổ bộ vào bờ biển Normandie sau khi đã chiếm lĩnh nước Ý từ phía Nam qua cuộc đổ bộ lên đảo [[Sicilia]]. Vào ngày [[20 tháng 7]] vụ mưu sát và đảo chính chống lại Hitler của một nhóm quân nhân và thành viên của nhóm chống đối ([[Nhóm Kreisau]] – ''Kreisauer Kreis'') đã thất bại.
19.587

lần sửa đổi