Khác biệt giữa các bản “Tripoli”

n
clean up, replaced: , → , (3), . → .
n
n (clean up, replaced: , → , (3), . → .)
Mặc dù cư dân La Mã cư trú tại Tripoli ngày nay trong nhiều thế kỷ, hiện chỉ có một phế tích La Mã còn sót lại, ngoài một số cột và đầu cột (thường được tích hợp trong các tòa nhà sau này), là Khung vòm của Marcus Aurelius từ thế kỷ thứ 2. Thực tế Tripoli đã liên tục có người ở, không giống như Sabratha hay Leptis Magna, có nghĩa là người dân có thể đã lấy vật liệu bằng đá từ các tòa nhà cũ (phá hủy chúng trong quá trình này), hoặc đã xây các công trình mới lên trên chúng, chôn vùi các công trình cổ bên dưới các đường phố, nơi phần lớn trong số chúng vẫn chưa được khai quật.
 
Có bằng chứng cho thấy rằng khu vực [[Tripolitania]] là trong một số những nơi suy giảm về kinh tế trong thế kỷ thứ 5 và thứ 6, một phần do tình trạng bất ổn chính trị lan rộng trên toàn thế giới Địa Trung Hải cùng sự sụp đổ của đế chế La Mã , cũng như áp lực từ các cuộc xâm lược của người [[Người Vandal|Vandal]].
 
Theo al-Baladhuri, Tripoli, không giống như những nới khác tại Tây Bắc châu Phi, bị người Hồi giáo chinh phục từ rất sớm sau khi thành phố [[Alexandria]] tại Ai Cập thất thủ vào năm 22 theo lịch Hijra, khoảng giữa 30 tháng 11, 642 và 18 tháng 11, 643. Sau cuộc chinh phục, Tripoli bị cai trị bởi các triều đại đóng đô tại [[Cairo]], [[Ai Cập]] (đầu tiên là [[Fatimids]], và sau đó là [[Mamluks]]). Có những lúc thành phố đã trở thành một phần của Đế chế Almohad và Hafsid của người Berber. Tripoli cũng từng là một phần của [[Đế quốc Ottoman|Đế chế Ottoman]] từ thế kỷ 16 đến 19.
Cuộc chiến với hải tặc đã diễn ra từ trước tại căn cứ của chúng trên đảo Rhodes, lý do mà các Hiệp sĩ được cử đến và gánh vác nhiệm vụ quản lý thành phố là để ngăn cản sự tái xuất hiện của các hải tặc Barbary, những kẻ đã hoạt động từ trước thời kỳ chiếm đóng của Tây Ban Nha. Sự gián đoạn hoạt động của những tên cướp biển trên các tuyến đường vận chuyển của Kitô giáo trong Địa Trung Hải được cho là kết quả của việc Tây Ban Nha chinh phục thành phố.
 
Các hiệp sĩ tiếp tục giữ thành phố với một số rắc rối cho đến năm 1551, khi họ buộc phải đầu hàng Ottoman, dẫn đầu bởi một người Thổ Hồi giáo tên là [[Turgut Reis]].<ref>{{chú thích sách |author= Reynolds, Clark G. |title= Command of the sea: the history and strategy of maritime empires |publisher= Morrow |year= 1974 |pages= 120–121 |isbn= 0688002676, 9780688002671 |quote= Ottomans extended their western maritime frontier across North Africa under the naval command of another Greek Moslem, Torghoud (or Dragut), who succeeded Barbarossa upon the latter's death in 1546.}}</ref> Turgut Reis sau đó giữ chức tổng trấn của Tripoli, trong thời gian cai trị của mình, ông đã cho trang hoàng và xây dựng thành phố, làm cho nó trở thành một trong những thành phố ấn tượng nhất dọc theo bờ biển Bắc Phi.<ref>{{chú thích sách |author= Braudel, Fernand |title= The Mediterranean and the Mediterranean world in the age of Philip II, Volume 2 |publisher= University of California Press |year= 1995 |pages= 908–909 |isbn= 0520203305, 9780520203303 |quote=Of all the corsairs who preyed on Sicilian wheat, Dragut (Turghut) was the most dangerous. A Greek by birth, he was now about fifty years old and behind him lay a long and adventurous career including four years in the Genoese galleys. }}</ref> Turgut được chôn cất tại Tripoli sau khi ông chết năm 1565 . Cơ thể của ông được đem về từ Malta, nơi ông đã chiến đấu cho đế chế Ottoman để bao vây hòn đảo, ông có ngôi mộ trong một nhà thờ Hồi giáo, nơi ông đã thành lập gần cung điện của mình tại Tripoli. Cung điện đã biến mất (được cho là nằm giữa "nhà tù Ottoman" và khung vòm Marcus Aurelius), nhưng nhà thờ Hồi giáo, cùng với ngôi mộ của ông, vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay và nằm gần cổng Bab Al-Bahr.
 
Sau khi bị người Thổ Ottoman xâm chiếm, Tripoli một lần nữa đã trở thành một căn cứ của hải tặc Barbary. Một trong nhiều nỗ lực của phương Tây nhằm chống lại chúng là cuộc tấn công của Hải quân Hoàng gia dưới sự chỉ huy của John Narborough năm 1675, trong đó có một nhân chứng đã sống sót.<ref>The Diary of [[Henry Teonge]] Chaplain on Board HM’s Ships Assistance, Bristol and Royal Oak 1675–1679. The Broadway Travellers. Edited by Sir E. Denison Ross and Eileen Power. London: Routledge, [1927] 2005. ISBN 978-0-415-34477-7</ref> Việc Ottoman cai trị trong thời gian này (1551-1711) thường bị cản trở bởi các đội quân địa phương Janissary. Có chức năng là cơ quan thực thi quyền lực chính quyền tại địa phương, đại tá Janissaries và bạn bè của ông thường thường được coi là những người cai trị Tripoli trên thực tế.
 
Năm 1711 Karamanli Ahmed , một viên chức Janissary có nguồn gốc Thổ đã giết chết tổng đốc Ottoman , "Pasha", và tôn mình làm người cai trị của khu vực Tripolitania. Đến năm 1714, ông đã tuyên bố bán độc lập từ Vương quốc Hồi giáo Ottoman, báo trước sự ra đời của triều đại Karamanli. Các Pasha của Tripoli được cho là đã nộp thuế đầy đủ cho Quốc vương Ottoman, nhưng trên các khía cạnh khác thì đây là một vương quốc độc lập. Việc tự trị này vẫn tiếp tục dưới sự cai trị của con cháu ông, cùng với đó là nạn hải tặc và tống tiền hoành hành ngang nhiên cho đến năm 1835, khi đế chế Ottoman đã lợi dụng một cuộc đấu tranh nội bộ và tái lập quyền lực của mình. Các cuộc nổi dậy vào các năm 1842 và 1844 đã không thành công. Sau khi Pháp xâm lược Tunisia, Ottoman đã gia tăng đáng kể quân đồn trú tại Tripoli.
 
===Thời kỳ thuộc địa của Ý===
5.681.853

lần sửa đổi