Khác biệt giữa các bản “William xứ Ockham”

không có tóm lược sửa đổi
n (Đã lùi lại sửa đổi của JTNguyen OFM (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của Wikidefen)
William Ockham (1288-1347)
{{Bảng tóm tắt triết gia
| region = [[Triết học Tây phương|Triết học Phương Tây]]
| era = [[Triết học Trung cổ]]
| color = #B0C4DE
| image = William of Ockham.png
| caption =
| name = William xứ Ockham
| sinh = 1288
| mất = 1347 hoặc 1348
| school_tradition = [[triết học kinh viện]]
| main_interests = [[Siêu hình học]], [[Nhận thức luận]], [[Thần học]], [[Logic]], [[Bản thể luận]], [[Chính trị học]]
| influences = [[Aristoteles|Aristotle]], [[Tommaso d'Aquino|Thomas Aquinas]], [[John Duns Scotus|Duns Scotus]], [[Peter Abelard]], [[Petrus Aureolus]], [[Durandus xứ Saint-Pourçain]]
| influenced = [[Khoa học]], [[Willard Van Orman Quine]], [[John Wycliffe]]
| notable_ideas = [[Dao cạo Ockham]], [[Chủ nghĩa duy danh]]
}}
<!--Làm ơn giúp mình vấn đề năm sinh / mất với,không hiển thị được-->
{{Redirect|Ockham}}
William xứ Ockham(sinh khoảng 1248, mất khoảng 1348) là nhà thầy tu dòng Francis và triết gia kinh viện người Anh, sinh tại Ockham thuộc hạt [[Surrey]] nước Anh. Ông là một nhà tư tưởng hàng đầu vào thời đại mình và đã có cống hiến cho các môn thần học, logic cũng như chính trị, tuy nhiên ngày nay chủ yếu được nhớ đến với nguyên lý [[Dao cạo Ockham]] áp dụng trong triết học và khoa học, với nội dung rằng trong các lý thuyết để diễn dịch một thực kiện, lý thuyết càng đơn giản càng có khả năng đúng đắn.
 
William Ockham được biết nhiều nhất về cái gọi là “Dao cạo Ockham” (Ockham’s razor). Đây là một nguyên tắc về phương pháp luận cho rằng khi thiết lập một luận đề ta nên tránh giả định nhiều yếu tố hơn là thật sự cần thiết. Ockham dùng nguyên tắc này để đơn giản hóa các phạm trù căn bản của Aristotle trong siêu hình học. Ockham chấp nhận chỉ 3 phạm trù: bản thể, phẩm tính, và tương quan. Các thực thể trong phạm trù “tương quan” thì chỉ cần thiết cho thần học khi phải quảng diễn về Ba Ngôi, Nhập thể và Bí tích Thánh Thể. Nếu không có Ba Ngôi, Ockham lý luận, thì ta không có lý do gì để giả định phải có phạm trù thứ ba này. Học thuyết duy danh từ chối sự tồn tại của “ý niệm phổ quát.” Nhưng đây không phải là hậu quả của thuyết “Dao cạo”. Ockham cho rằng không chỉ vì chúng ta không có lý do chính đáng nào để giả định sự tồn tại của các thực thể phổ quát này, mà thuyết “ý niệm phổ quát” thì ngay từ bản chất của nó cũng là không hợp lý.
[[Thể loại:Sinh thế kỷ 13]]
 
[[Thể loại:Mất thế kỷ 14]]
“DAO CẠO OCKHAM”
[[Thể loại:Triết gia thế kỷ 14]]
 
[[Thể loại:Triết học Tây phương]]
Nguyên tắc “tiết kiệm bản thể luận”: Đứng sau “dao cạo Ockham” là nguyên tắc “tiết kiệm bản thể luận” (ontolotical parsimony), tức là ta “không nên giả định nhiều thực thể hơn là cần thiết.” Cho dù Ockham ta không phải là người phát minh học thuyết này, nhưng là người đã dùng nó một cách phổ quát và đặt thù nhất trong lịch sử triết Tây Phương. Thuyết “dao cạo” không từ chối sự tồn tại của các thực thể, nó chỉ khuyên ta nên cẩn thận khi giả định chúng, trừ khi dựa trên lý thuyết hợp lý cần phải dùng nó.
[[Thể loại:Triết gia Anh]]
 
[[Thể loại:Triết gia kinh viện]]
Mối tương quan của “Dao Cạo Ockham” với các vấn đề đức tin và lý trí thì có vẽ không hiển nhiên. Nhưng trong thực tế, cách Ockham dùng “dao cạo” này để giản lược hóa các vấn đề trong hệ thống triết-thần Kinh Viện đã gây nên những cơn sóng gió lớn cho sự kết nối giữa lý trí và đức tin thời trung cổ.
{{sơ khai}}
 
Đối với Ockham, “dao cạo” này là một thực hành của lý trí. Ông ta áp dụng nó vào siêu hình học với một logics rất hùng hồn. Tuy nhiên, sau khi cạo bỏ những gì không cần thiết trong triết học, Ockham nhận ra thuyết siêu hình trở nên quá giản lược, mả trên bình diện tri thức luận, không đủ để làm nền tảng để diễn đạt nội dung của đức tin Kitô. Do đó, Ockham phải lại thêm vào siêu hình học một số điều kiện cần thiết cho tính mạch lạc hay nhất quán của các mệnh đề thần học. Như thế, theo Ockham, công tác khai triển các tín khoản thần học không chỉ đơn giản là áp dụng triết học tốt nhất để phục vụ cho mạc khải Kitô giáo. Hơn thế nữa, suy tư thần học đòi hỏi chúng ta phải giả định thêm một số “thực thể” vốn trên nguyên tắc triết học tốt nhất không thể chấp nhận được.
 
“Dao cạo” loại bỏ các phạm trù: Ockham dùng “dao cạo” loại bỏ 7 trong 10 phạm trù của Aristotle. Trong thời Trung Cổ đã có nhiều tranh luận rằng 10 “phạm trù” của Aristotle thật ra chỉ là cách dùng ngôn ngữ để phân loại các thực thể mà thôi. Scotus cho rằng các phạm trù của Aristotle nói đến các thực thể, và đây là 10 phương cách hay khung cơ bản nhất để phân loại tất cả hữu thể.
 
Nhưng theo Ockham, trên bình diện của lý trí, chỉ cần 2 phạm trù: bản thể và phẩm tính. Bản thể là một hữu thể có khả năng tồn tại tự nó. Phẩm tính là những đặc tính hay yếu tính của bản thể. Ockham phản đối việc giả định các thực thể (phạm trù) khác. Để minh họa điều này, ông ta phân tích một số mệnh đề thường được xem như là chúng có thật nhưng thật ra thì không cần thiết. Ví dụ, chân lý của mệnh đề “Socrates thì tương tự như Plato” không đòi hỏi ta phải tin là, ngoải Socrates, Plato và các yếu tính của họ ra, cần phải có thực thể đặc biệt gọi là “tương tự” mà Socrate hay Plato phải có. Thật ra, muốn mệnh đề trên có đầy đủ ý nghĩa thì ta chỉ cần có 2 thực thể (Socrates & Plato) và các yếu tính của hai thực thể đó mà thôi, (không cần thêm vào phạm trù “tương quan”).
 
Tuy nhiên trên bình diện thần học chúng ta cần phải thêm những thực thể thuộc loại phạm trù thứ ba: tương quan. Vì dụ, tín điều Thiên Chúa Ba Ngôi không thể có ý nghĩa nếu sự “tương quan” không phải là một thực thể. Cho dù Ockham muốn bảo vệ sự chính thống của đức tin, nhưng ông ta cho rằng sự kiện phải giả định thêm một thực thể mà thật sự không cần thiết (e,g. tương quan) chỉ vì lý do thần học, thì chỉ làm cho giá trị tri thức của mệnh đề thần học trở nên yếu kém hơn trên bình diện luận lý học. Từ điểm này ta có thể thấy khả năng tách rời triết học ra khỏi thần học ở cuối thời Kinh Viện.
 
THUYẺT DUY DANH
 
Thuyết Duy Danh cũng làm cho Ockham nổi danh không kém: ông ta từ chối mọi sự tồn tại của ý niệm phổ quát như là thực thể. Lý do thông thường khi giả định sự tồn tại của cái phổ quát là vì trong nhận thức luận, chúng tiện lợi cho việc đặt nền cho tri thức và ngôn ngữ dùng để diễn tả tri thức đó.
 
Chúng ta cần cái phổ quát để cung cấp thực thể cho trí năng. Tôi có những tri giác về một con chó nào đó, nhưng tôi cũng có tri thức (ý niệm) trong trí năng về con chó phổ quát. Chúng ta cần cái phổ quát để cung cấp nền tảng cho các vấn đề khoa học. Khoa học đối diện với cái phổ quát. Nếu không có những thực thể phổ quát thì đối tượng của khoa học chỉ là khái niệm mà thôi.
 
Cái phổ quát cũng được dùng như là vị ngữ hay bổ ngữ cho chủ từ của một mệnh đề. Nếu ta nói, “Bông hồng này màu đỏ” thì ta phải khẳng định “đỏ” như là một thực thể. Như thế “tính” đỏ cho ta nền tảng khách thể trong việc khẳng định này.
 
Vấn đề trong việc giả định thực thể phổ quát là thuộc phạm vi siêu hình. Phổ quát là một nhưng cũng là nhiều. Tính “đỏ” là một thực thể, nhưng nó cũng tồn tại trong mọi sự vật có màu đỏ. Vậy thì chúng vừa ở trong các sự vật và ở ngoài sự vật. Tính “con người” thì tồn tại độc lập khỏi mọi con người, nhưng nó cũng hiện hữu trong mỗi con người (vì nếu không, chúng ta không thể dủng vị từ “con người” để khẳng định, e.g., Socrates là con người). Dựa trên vấn nạn siêu hình này, Ockham lý luận rẳng chính khái niệm “thực thể phổ quát” là không nhất quán.
 
Từ đó, Ockham cổ võ chiều hướng loại bỏ các thực thể phổ quát (universal entities) trên cơ sở tri thức luận là chúng không phục vụ mục tiêu nào cả. Trước tiên, các thực thể loại này thì tùy thuộc và cá nhân dùng chúng mà thôi. Hơn nữa, tính phổ quát của khoa học thì không dựa trên cơ sở của sự tồn tại của các thực thể phổ quát, nhưng đối tượng của khoa học là những “khái niệm phổ quát”; chúng đại diện hay thay thế cho các sự vật cụ thể, chứ không hề có thực thể phổ quát nào đứng sau chúng. Chúng ta chỉ cần “phẩm tính” của các sự vật cụ thể để mệnh đề khoa học có ý nghĩa. Một bông hoa hồng và phẩm tính “đỏ” của nó là đủ để tạo nên nền tảng khách quan để đánh giá mệnh đề của tôi: Bông hồng này màu đỏ.” Nói cách khác, khái niệm không ám chỉ sự tồn tại của thực thể phổ quát nào cả, mà chỉ là tên gọi có thể áp dụng chung cho nhiều sự vật cụ thể.
 
Cuối cùng, học thuyết duy danh của Ockham rất là nổi tiếng. Đa số học giả nghiên cứu về triết trung cổ, ngay cả những người có cảm tình với triết học Tôma cũng đều phải công nhận là thuyết duy danh là mầm mống khởi đầu cho các vấn nạn “nhức đầu” trong triết học và thần học thời cận đại. Một số cho rằng thuyết duy danh đưa đến não trạng hoài nghi, vì nó chủ trương loại bỏ các bản tính khách quan và thực thể của khái niệm mà chúng ta muốn tìm hiểu. Có nhóm cho rằng thuyết duy danh là nguồn gốc cho xu hướng tương đối hóa trong triết thần cận đại. Vì nếu không có nền tảng thực thể cho khái niệm cho nên tất cả mọi khái niệm đều có giá trị ngang nhau, không học thuyết nào đúng hơn học thuyết nào. Tuy nhiên, Ockham tin tưởng rằng chúng ta vẫn có thể hiểu biết về thế giới chung quanh ta qua cách dùng khái niệm, nếu chúng ta biết dùng các khái niệm đúng theo bản chất của nó. Ockham không cổ võ cho chủ thuyết tương đối, nhưng ông ta chỉ muốn giữ thái độ hoài nghi khi tận dụng thần học tự nhiên để nói về Thiên Chúa như theo phái Averroes.
 
CHÚNG TA CÓ THỂ BIẾT GÌ VỀ THIÊN CHÚA?
Một trong những hậu quả của sự việc Ockham khám phá ra thiếu sót trong lý luận của các triết gia đi trước là mối hoài nghi của ông ta về việc dùng triết học để biện minh cho tri thức tự nhiên của con về Thiên Chúa. Ông ta khẳng định rằng ta không thể chỉ dựa trên nền tảng lý trí để kết luận rằng phải có nguyên nhân đệ nhất. Lý trí tự nhiên không thể loại bỏ khả năng là một chuỗi vô hạn mà trong đó mỗi hiện hữu có thể được giải thích hoàn toàn bằng nguyên nhân trước nó, vả cứ tiếp tục như thế. Hơn nữa, không thể chứng minh rằng phải có một hữu thể mà không gì vĩ đại hơn mà ta có thể tưởng tượng được. Các “chứng cớ” như vậy phải dựa trên mặc khải siêu nhiên và là đối tượng của đức tin. Do đó, một chủ thuyết dựa trên triết học có thể sẽ đối lập với các đòi hỏi của chân lý của đức tin Kitô giáo. Trong trường hợp như thế, sẽ không có một “không gian trung lập” vốn có thể giải quyết mâu thuẫn giữa đức tin và lý trí. Nổ lực tìm sự dung hòa giữa đức tin và lý trí sẽ không luôn hoàn hảo như các triết gia Kinh Viện muốn có.
 
Cho dù so với các vị tiền bối thì Ockham có vẽ ít hào hứng về khả năng đạt đến tri thức về Thiên Chúa bằng chỉ lý trí, tuy nhiên cũng không nên phóng đại sự khác biệt giữa Ockham và Tôma hay Scotus. Cả ba triết gia đều nằm trong truyền thống tư tưởng Kitô giáo vốn chống lại chủ thuyết duy tín (loại trừ lý trí) và duy lý (loại trừ đức tin). Cả ba chấp nhận tính hợp lý và áp dụng của nền triết học Hy lạp để xây dựng nền tảng suy tư cho thần học Kitô. Cả ba công nhận là giới hạn của lý trí con người do sự sa ngã của Adam, do đó lý trí cần được bổ túc và hổ trợ bởi đức tin.
 
Thần học không là một khoa học: Tuy nhiên, Ockham khác với Tôma và Scotus khi không cho rằng thần học là một khoa học. Khoa học theo Aristotle là loại tri thức suy diễn từ các nguyên lý hiển nhiên, còn khẳng định thần học thì dựa trên lý trí và được điều chỉnh bởi đức tin. Cả Tôma và Scotus đều chấp nhận thần học như một bộ môn khoa học trên đây. Họ lý luận rằng cho dù các nguyên lý của mặc khải thì không hiển nhiên đối với chúng ta, nhưng chúng là mặc nhiên đối với Thiên Chúa và các thánh trên trời, do đó chúng có thể được dùng như là nền tảng cho khoa thần học. Ockham phản biện: thật là vô lý khi kết luận rằng ta có tri thức khoa học về một luận đề mà chân lý của nó chỉ hiển nhiên đối với người khác chứ không phải với chính chúng ta.
 
Ockham không chấp nhận thần học Kitô, xây dựng trên nền tảng triết học cổ điển, thì đạt tiêu chuẩn tri thức và mục tiêu mà các triết gia cổ điển đã đưa ra. Cả Scotus lẫn Tôma lý luận rằng một số chân lý Kitô giáo có thể được chứng minh bằng triết học, và số còn lại cho dù không thể minh chứng được bằng triết học thì ít ra là không mâu thuẫn với lý trí con người. Ockham loại bỏ cả hai luận cứ này. Ông hoài nghi về khả năng triết học triết học có thể cung cấp chân lý cho tri thức về Thiên Chúa, và cà tuyên bố rằng mầu nhiệm đức tin thì luôn hài hòa với lý trí.
 
Ockham hoài nghi về khả năng của thần học tự nhiên. Theo luận cứ dựa trên hữu thể luận (Anselmô) thì tối đa thì chúng ta chỉ có thể minh chứng là có một hữu thể mà không hữu thể nào khác hoàn hảo hơn hữu thể đó. Nhưng chúng ta không cách nào bảo đảm được rằng hữu thể đó không là hữu hạn và chỉ có một hữu thể như thế mà thôi. Ockham không có tham vọng sửa chữa sai lầm của luận cứ dựa này.
 
Không có sự hài hòa tất yếu giữa đức tin và lý trí: Ockham cũng rất hoài nghi về khả năng minh chứng rằng tất cả mầu nhiệm về đức tin luôn phù hợp hay hài hỏa với lý trí. Cụ thể là đức tin đòi hỏi nhiều hơn lý trí. Tín điều Thiên Chúa Ba Ngôi sẽ có vấn đề nếu chúng ta loại bỏ phạm trù “tương quan” mà Ockham nghĩ là không cần thiết trong theo triết học. Theo Aristotle, không có phạm trù nào gọi là “tương quan”. Ngược lại, chúng ta sẽ không hiểu mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi đúng theo nghĩa thần học nếu chúng ta không thêm vào đó thực thể “tương quan” mà cả Ba Ngôi Thiên Chúa cùng chia sẻ.
 
Ockham không đồng tình với Scotus và Tôma vốn cho rằng nếu có sự mâu thuẫn giữa một triết học và đức tin, thì có gì sai lầm trong cách lý luận của triết thuyết đó. Sai lầm này có thể làm sáng tỏ bằng phương pháp duy lý. Ngược lại, Ockham bênh vực quan điểm của Aristotle không có thực thể “tương quan” là đúng, và trên bình diện lý trí thì không cần phải bổ túc thêm gì nữa. Chỉ qua lăng kính đức tin thì lý thuyết này được cho là sai. Như thế, chúng ta phải chấp nhận chân lý của triết học, và tạo nên một ngoại lệ cho thần học chỉ khi có nhu cầu mà thôi. Sẽ không có một điểm trung lập nào để biện hộ cho ngoại lệ này từ quan điểm của triết học.
 
Kết cuộc, “dao cạo” của Ockham gọt bỏ các thực thể phổ quát không cần thiết, nhưng đã gây ra một sự rạn nức từ bên trong “nền tảng hài hòa” giữa đức tin và lý trí mà các thần học gia từ Augustinô, Anselmô, Abelard, Tôma đến Scotus đã cố gắng bồi đắp. Nói cách khác, “dao cạo” của Ockham đã trở thành cái “chêm”, tách biệt triết học và thần học, mở đường cho một trang sử mới-- triết học cận đại.
2

lần sửa đổi