Khác biệt giữa các bản “Heavy metal”

n
Liên kết hỏng
n (→‎Thrash metal: clean up, replaced: . → . (2) using AWB)
n (Liên kết hỏng)
Dòng thrash metal bắt đầu xuất hiện vào những năm đầu thập kỉ 80, chịu ảnh hưởng trực tiếp của dòng nhạc [[hardcore punk]] và trào lưu nhạc heavy metal mới của nước Anh<ref name="GTM">[http://www.allmusic.com/explore/style/d373 "Genre—Thrash Metal"]. Allmusic. Truy cập 3 tháng 3, 2007.</ref> đặc biệt là các bản nhạc sử dụng phong cách tăng tốc gọi là [[speed metal]]. Phong trào thrash metal bắt đầu tại Mĩ, với đầu tàu là các buổi biểu diễn của một số band tại Bay Area, [[California]]. Âm nhạc của các nhóm thrash có đặc điểm là mạnh mẽ và dữ dội hơn dòng nhạc metal gốc cũng như dòng [[glam rock]] xuất hiện sau nó.<ref name="GTM"/> Những cú riff ghitar với quãng âm thấp thường làm nền cho guitar lead sử dụng kĩ thuật lướt nhanh (shredding). Lời hát thường thể hiện quan điểm của chủ nghĩa hư vô hoặc đề cập tới các vấn đề xã hội với ngôn từ đẫm máu và đầy nội tâm. Thrash metal được mô tả như một dạng ‘’nhạc tai họa của đô thị’’ hay ‘’một người anh em họ xanh xao của rap’’
 
Dòng thrash metal được phổ biến rộng rãi tới người nghe bởi 4 nhóm thrash lớn (Big Four): [[Metallica]], [[Anthrax]], [[Megadeth]] và [[Slayer]].<ref>Walser (1993), p.14</ref> 3 nhóm thrash đến từ nước Đức [[Kreator]], [[Sodom]], and [[Destruction]] đóng góp quan trọng vào sự phát triển của thrash tại châu Âu. Ngoài ra có thể kể đến đóng góp của các nhóm nhạc đến từ các buổi biểu diễn tại Bay Area là [[Testament]] và [[Exodus]], nhóm nhạc New Jersey [[Overkill]], và nhóm [[Sepultura]] của Brazil. Bắt đầu từ một trào lưu âm nhạc ngầm tồn tại tới gần 1 thập kỉ, thrash đã dần dần tiếp cận được một lớp công chúng đông đảo hơn nhờ vào sự phát triển của một số nhóm như Metallica, Megadeth.. Năm 1986, album ''[[Master of Puppets]]'' của Metallica lọt vào top 40 bảng xếp hạng album ''Billboard'', 2 năm sau, đến lượt album [[...And Justice for All]] đứng thứ 6 tại bảng xếp hạng này. Megadeth và Anthrax cũng có những bản rock lọt vào top 40.<ref>[http://web.archive.org/20070929225341/www.billboard.com/bbcom/retrieve_chart_history.do?model.chartFormatGroupName=Albums&model.vnuArtistId=5199&model.vnuAlbumId=758988 "Metallica—Artist Chart History"]; [http://web.archive.org/20070929144156/www.billboard.com/bbcom/retrieve_chart_history.do?model.chartFormatGroupName=Albums&model.vnuArtistId=5179&model.vnuAlbumId=933608 "Megadeth—Artist Chart History"]; [http://web.archive.org/20070929204614/www.billboard.com/bbcom/retrieve_chart_history.do?model.chartFormatGroupName=Albums&model.vnuArtistId=3982&model.vnuAlbumId=728383 "Anthrax—Artist Chart History"]. Billboard.com. Truy cập 7 tháng 4, 2007.</ref>
Mặc dù không thành công trên thị trường bằng các band khác trong nhóm bộ tứ, Slayer đã cho ra đời những bản thrash mang tính định hình cho thể loại nhạc trong album ''[[Reign in Blood]]'' (1986). Album này đã được mệnh danh là ‘’album nặng nhất mọi thời đại’’<ref name="Lostprophets scoop rock honours">{{chú thích web| title = Lostprophets scoop rock honours | publisher = BBC News | date = 2006-08-25| url = http://news.bbc.co.uk/2/hi/entertainment/5282780.stm| accessdate = 2007-01-10 }}</ref> 2 thập kỉ sau, ''[[Metal Hammer]]'' gọi nó là album tuyệt vời nhất trong 20 năm trở lại đây<ref name="Golden Gods Awards Winners">{{chú thích web| title = Golden Gods Awards Winners| publisher = Metal Hammer| date = 2006-06-13| url = http://www.metalhammer.co.uk/news/?id=44410| accessdate = 2007-01-10 }}</ref> Trong số khán giả của Slayer có cả những phần tử phát xít mới cực hữu, và người ta vẫn luôn buộc tội Slayer vì việc truyền bá bạo lực và tư tưởng phát xít <ref>Moynihan, Søderlind (1998), p. 30; O'Neil (2001), p. 164</ref> Đầu thập niên 90, thrash đã có được những thành công vượt bậc, thách thức và định nghĩa lại dòng metal chính thống <ref>Walser (1993), p. 15</ref> Album cùng tên của Metallica năm 1991 đã chiếm ngôi đầu bảng xếp hạng <ref>[http://www.billboard.com/#/charts/billboard-200?chartDate=1991-08-31 Billboard 200, chart date: 1991-08-31]</ref>, album ''[[Countdown to Extinction]]'' của Megadeth năm 1992 đứng vị trí thứ 2<ref>[http://www.billboard.com/#/charts/billboard-200?chartDate=1992-08-01 Billboard 200, chart date: 1992-08-01]</ref>, Anthrax và Slayer lọt vào top 10<ref>[http://www.billboard.com/#/charts/billboard-200?chartDate=1993-06-12 Billboard 200, chart date: 1993-06-12]; [http://www.billboard.com/#/charts/billboard-200?chartDate=1994-10-15 Billboard 200, chart date: 1994-10-15]</ref>, và album của những nhóm như Testament và Sepultura cũng lọt vào top 100.<ref>[http://www.billboard.com/#/album/testament/ritual/50471 Billboard 200 Chart Position: Testament – ''Ritual'', chart date: 1992-05-30]; [http://www.billboard.com/#/album/sepultura/chaos-a-d/147266 Billboard 200 Chart Position: Sepultura – ''Chaos A.D.'', chart date: 1993-11-06]</ref>