Khác biệt giữa các bản “Chính thống giáo Đông phương”

thống nhất từ ngữ trong một bài
n (clean up, replaced: RomaniaRomânia (2))
(thống nhất từ ngữ trong một bài)
'''Chính Thống giáo Đông phương''' là nhánh Kitô giáo lớn thứ nhì trên thế giới, sau [[Giáo hội Công giáo Rôma]]. Đây là nhóm các giáo hội Kitô giáo đại diện cho truyền thống [[Kitô giáo Đông phương]]. Chính Thống giáo truy nguyên nguồn gốc của họ về Kitô giáo sơ khai và tuyên bố họ mới là sự tiếp nối duy nhất và chính thống của giáo hội do Chúa Kitô thiết lập, xem chính mình là [[Giáo hội Duy nhất, Thánh thiện, Công giáo và Tông truyền]]. Trong thiên niên kỉ đầu của Kitô giáo, Chính Thống giáo Đông phương và [[Giáo hội Công giáo Rôma|Công giáo Rôma]] cùng là một giáo hội, mặc dù có một số khác biệt giữa đông phương và tây phương. Vào [[thế kỷ 11|thế kỉ thứ 11]], các khác biệt này dẫn đến cuộc [[Ly giáo Đông - Tây]] năm [[1054]], phân chia thành Chính Thống giáo Đông phương và Công giáo Rôma.
 
Tín hữu Chính Thống giáo vẫn xem giáo hội của mình là truyền thống Kitô Đốcgiáo trung thành nhất với các giá trị thần học bắt nguồn từ thời hội thánh tiên khởi. Giáo hội cấu trúc tổ chức bao gồm các giáo phận độc lập cùng chia sẻ một nền thần học, đặt dưới quyền cai quản của các Giám mục có nhiệm vụ bảo vệ các truyền thống giáo hội được lưu truyền từ [[Mười hai sứ đồ|Mười hai Sứ đồ]] qua quyền [[tông truyền]], đặc biệt là [[Thánh Anrê]].
 
Tín hữu Chính Thống giáo xem giáo hội của họ là:
*Giáo huấn và truyền thống giáo hội được bảo tồn bởi các tín hữu thời kỳ hội thánh sơ khai được lưu truyền từ các sứ đồ, cùng các truyền thống khác được phát triển sau này nhằm mở rộng và làm sáng tỏ các giáo huấn nguyên thủy.
*[[Tân Ước]] viết cho tín hữu thời kỳ hội thánh sơ khai và trình bày các giáo lý đã có sẵn của hội thánh (ngụ ý Giáo hội là nền tảng của Tân Ước).
Giáo hội thiết lập và bảo tồn lịch Kitô Đốcgiáo nguyên thủy (dựa trên [[lịch Julius|lịch Julian]]), xác lập những ngày lễ kỷ niệm các sự kiện quan trọng trong cuộc đời Chúa Giê-su.
 
Theo dòng lịch sử, các giáo hội Chính Thống chịu ảnh hưởng [[văn hóa Hi Lạp]] liên kết với [[Alexandria]], [[Constantinopolis]] (nay là [[Istanbul]]), cùng các thành phố khác thuộc nền văn minh Hi Lạp; trong khi đó Giáo hội Rôma liên kết với [[Đế quốc La Mã|La Mã]] thuộc [[văn hóa Latin]] và phương Tây. Sự khác biệt ngày càng gia tăng khi [[Đế quốc La Mã|Đế chế La Mã]] bị chia cắt thành hai phần: phương Đông và phương Tây.
 
=== Tội lỗi và sự Cứu rỗi ===
Bản chất của con người, trước khi sa ngã, là tinh tuyền và vô tội. Nhưng hành động bất tuân Thiên Chúa của [[Adam]] và [[Eva (kinh thánh)|Eva]] trong [[Vườn Eden]] đã để [[tội lỗi]] và sự bại hoại thâm nhập vào bản chất tinh tuyền ấy. Tình trạng bất khiết này đã ngăn cản con người hưởng [[Vương quốc Thiên đàng]]. Song, khi Thiên Chúa hóa thân thành người trên dương thế, ngài đã thay đổi bản chất ấy bằng cách hiệp nhất con người với Thiên Chúa; do đó, Chúa Cơ ĐốcKitô thường được gọi là “Adam mới”. Bằng cách trở thành người, chết trên cây thập tự, và sống lại, ngài đã thánh hóa các phương tiện ân điển, nhờ đó chúng ta được trở lại với tình trạng tinh tuyền nguyên thủy và phục hòa với [[Thiên Chúa]]. Điều này Chính Thống giáo gọi là được cứu khỏi tình trạng bệnh tật của tội lỗi. Quyền năng của sự [[cứu rỗi]] giải thoát mọi người công chính khỏi quyền lực trói buộc của tội lỗi, kể từ buổi sáng thế, trong đó có cả Adam và Eva.
 
=== Phục sinh ===
== Huyền nhiệm ==
[[Tập tin:Epiphany Mass in the Monastery of Prophet Elias of Santorini.jpg|trái|nhỏ|280px|Lễ Hiển Linh tại tu viện ngôn sứ Elias, [[Santorini]], Hy Lạp]]
Theo thần học Chính Thống giáo, mục tiêu của đời sống Kitô Đốcgiáo là đạt đến theosis, sự hợp nhất huyền nhiệm giữa con người và Thiên Chúa, theo như cách diễn đạt của Athanasius thành Alexandria trong tác phẩm ''Incarnation'', “Ngài (Chúa Giê-su) là Thần Linh trở thành người để con người có thể trở thành thần linh (θεοποιηθῶμεν)”.<ref>Athanasius of Alexandria, ''[http://www.ccel.org/ccel/schaff/npnf204.vii.ii.i.html On the Incarnation of the Word]'', [http://www.ccel.org/ccel/schaff/npnf204.vii.ii.liv.html §54].</ref><ref>”Và bởi sự vinh hiển nhân đức ấy, Ngài lại ban lời hứa rất quí rất lớn cho chúng ta, hầu cho nhờ đó anh em được lánh khỏi sự hư nát của thế gian bởi tư dục đến, mà trở nên người dự phần bản thể của Thiên Chúa.” – 2Peter 1:4</ref><ref>”Ta đã nói: Các ngươi là thần, Hết thảy đều là con trai của Đấng Chí Cao.” – Thi thiên 82:6</ref><ref>”Chúa Giê-su đáp rằng: Trong luật pháp của các ngươi há chẳng chép rằng: Ta đã phán: Các ngươi là thần, hay sao? Nếu luật pháp gọi những kẻ được lời Thiên Chúa phán đến là thần…” – Phúc âm Gioan 10: 34-35</ref>
 
Trong ngôn ngữ của Chính Thống giáo, thuật từ “Sự Huyền nhiệm” được dùng để chỉ tiến trình hợp nhất với Thiên Chúa. Nước, dầu, bánh, rượu nho…. là các phương tiện được Chúa sử dụng để đem con dân Chúa đến gần ngài. Tiến trình này được vận hành như thế nào là một sự “huyền nhiệm” khó có thể diễn đạt trong ngôn ngữ loài người.
 
Những nghi thức tôn giáo mà Cơ ĐốcKitô giáo phương Tây gọi là Bí tích (''Sacraments''), phương Đông gọi là [[Huyền nhiệm Thiêng liêng]] (''Sacred Mysteries''). Trong khi [[Giáo hội Công giáo Rôma]] có bảy bí tích, và phần lớn cộng đồng [[Tin Lành|Kháng Cách]] công nhận hai bí tích ([[Thanh Tẩy|Báp têm]] và [[Tiệc Thánh]]), Chính Thống giáo không hạn chế số lượng. Tuy nhiên, có bảy Huyền nhiệm lớn trong Chính Thống giáo: Tiệc Thánh, Báp têm, Kiên tín, Xưng tội, Xức dầu thánh, Hôn phối, và Tấn phong.
 
== Chức sắc ==
== Lịch sử ==
=== Hội thánh Tiên khởi ===
Cơ ĐốcKitô giáo phát triển mau chóng trên toàn lãnh thổ [[Đế quốc La Mã]], một phần nhờ tiếng Hi Lạp là chuyển ngữ (''lingua franca'') được sử dụng rộng rãi trong dân chúng, phần khác là do thông điệp Kitô Đốcgiáo được xem là mới và khác với các tôn giáo cũ của người [[Đế quốc La Mã|La Mã]] và người [[Hy Lạp|Hi Lạp]]. [[Sứ đồ Phaolô|Phao-lô]] và các sứ đồ khác đi khắp nơi trong Đế chế, trong đó có vùng [[Tiểu Á]], thiết lập hội thánh trong các cộng đồng dân cư, từ thành [[Jerusalem]] và [[Xứ Thánh]], đến [[Antioch]] và vùng phụ cận, đến La Mã, [[Alexandria]], [[Athena|Athens]], [[Thessalonika]], và [[Byzantium]]. Byzantium về sau chiếm vị trí nổi bật ở phương đông, được mệnh danh là La Mã mới. Trong thời kỳ này, [[Kitô giáo|Cơ Đốc giáo]] cũng là mục tiêu của nhiều đợt bách hại, nhưng hội thánh vẫn tiếp tục phát triển. Năm [[324]], Hoàng đế [[Giáo hoàng Constantinô|Constantine]] chấm dứt các cuộc bách hại.
 
Trong thế kỷ thứ tư, hội thánh phát triển sâu rộng trên nhiều xứ sở, cũng là lúc xuất hiện nhiều giáo thuyết mới, đáng kể nhất là học thuyết [[Arius]]. Học thuyết này gây nhiều ảnh hưởng, đồng thời là nguyên nhân của những tranh luận thần học bên trong hội thánh. Constantine quyết định triệu tập một công đồng lớn nhằm xác lập các quan điểm thần học cho giáo hội.