Khác biệt giữa các bản “Robert Baden-Powell”

n
clean up, replaced: LondonLuân Đôn (3)
n (clean up, replaced: LondonLuân Đôn (3))
| name = Robert Baden-Powell,<br />Đệ nhất Nam tước Baden-Powell
| lived = [[22 tháng 2]] [[1857]] &ndash; {{euro death date and age|1941|1|8|1857|2|22}}
| placeofbirth = [[Luân Đôn|London]], [[Anh]]
| placeofdeath = [[Nyeri, Kenya]]
| image = [[Tập tin:Baden-Powell USZ62-96893 (retouched and cropped).png|200px|Robert Baden-Powell]]
==Tiểu sử==
===Thiếu thời===
Robert Baden-Powell chào đời ở số 9 đường Stanhope, phố Paddington ở [[Luân Đôn|London]] vào năm [[1857]]. Ông là người con trai thứ 7 trong gia đình có 8 con trai trong 10 đứa con kể từ cuộc hôn nhân thứ ba của [[Mục sư]] Baden-Powell ([[22 tháng 8]], [[1796]] – [[11 tháng 6]], [[1860]]), một giáo sư người [[Savilian]] dạy [[hình học]] ở [[Đại học Oxford]]. Cha của ông mất từ lúc ông lên 3 tuổi, và để tưởng nhớ người cha quá cố, họ của ông đổi từ Powell thành Baden-Powell. Ông lớn lên trong vòng tay của mẹ, bà [[Henrietta Grace Powell]] (nhũ danh Smyth) ([[3 tháng 9]], [[1824]] – [[13 tháng 10]], [[1914]]), trưởng nữ của Đô đốc [[William Henry Smith]] ([[1788]] - [[1865]]). Bà vốn là một người phụ nữ mạnh mẽ và kiên nghị với quyết tâm giúp đỡ các con của bà trở thành những công dân hữu ích cho xã hội. Baden-Powell nói về bà năm [[1933]]: “Toàn bộ bí quyết thành nhân của tôi đến từ mẹ tôi.”<ref name="jeal">{{chú thích sách | first = Tim | last = Jeal | authorlink = Tim Jeal | title = [[Baden-Powell (book)|Baden-Powell]] | publisher = Hutchinson | year = 1989 }}</ref><ref name="palstra">{{chú thích sách | first = Theo P.M. | last = Palstra | title = Baden-Powel, zijn leven en werk | publisher = De Nationale Padvindersraad | city = Den Haag | month = April | year = 1967 }}</ref><ref name="drewery">{{chú thích sách | first = Mary | last = Drewery | title = Baden-Powell: the man who lived twice | publisher = [[Hodder and Stoughton]] | city = London | year = 1975 | id = ISBN 0-340-18102-8 }}</ref>
 
Sau khi học trường trung học Rose Hill, [[Tunbridge Wells]], trong lúc người anh mà ông yêu mến nhất Augustus qua đời, Baden-Powell nhận được học bổng vào [[Charterhouse]], một trường [[trung học công (Anh quốc)|trung học công]] danh tiếng. Lần đầu ông được biết tới các [[kỹ thuật Hướng đạo|kỹ thuật trinh sát]] là trong những lần trốn học chơi đuổi bắt và nấu ăn trong khu [[rừng]] gần trường mặc dù điều đó là vi phạm nghiêm trọng nội quy nhà trường. Ông cũng chơi [[dương cầm|piano]] và [[vĩ cầm|violon]], là một nghệ sĩ thuận cả hai tay và ưa thích diễn kịch. Những ngày lễ nghỉ của ông thường là những cuộc [[thám hiểm]] bằng thuyền và [[canô]] chung với anh em của ông<ref name='jeal'/>.
Khi thế kỷ 19 trôi đi, kỹ thuật Hướng đạo bắt đầu được nhiều bộ phận của các lực lượng quân sự áp dụng khi mà cách chiến đấu trong chiến tranh và trong các trận đánh đã thay đổi. Trinh sát viên Mỹ, [[Frederick Russell Burnham]] đã mang kỹ thuật Hướng đạo sang [[Châu Phi|Phi Châu]] và trong [[Đệ nhị Chiến tranh Matabele]] ông đã giới thiệu nó cho Robert Baden-Powell, người sáng lập ra [[hướng đạo|phong trào Hướng đạo]].<ref name="scoutingforboys">{{chú thích sách | last =Baden-Powell | first =Robert | authorlink =Robert Baden-Powell| coauthors = | title =Scouting for Boys: A Handbook for Instruction in Good Citizenship | publisher =H. Cox | date =1908 | location =London | pages = xxiv| url = | doi = | id = ISBN 0-486457-19-2}}</ref> Baden-Powell trước tiên bắt đầu hình thành ý tưởng của ông cho một chương trình huấn luyện thanh niên về kỹ thuật Hướng đạo trong khi thực hiện nhiệm vụ trinh sát với Burnham tại [[Matobo Hills]], [[Matabeleland]] (hiện tại là một phần của [[Zimbabwe]]).
 
Trong chuyến trở về từ châu Phi, Baden-Powell nhận ra quyển sách huấn luyện quân đội của ông, "Trợ giúp trinh sát" (''Aids to Scouting'') đã trở thành 1 trong những quyển bán chạy nhất thời đó và đang được sử dụng rộng rãi trong nhà trường và các tổ chức đoàn thể. Sau 1 cuộc gặp với trưởng [[Lữ đoàn Nam]], Sir [[William Alexander Smith]], Baden-Powell đã quyết định viết lại quyển ''Aids to Scouting'' cho phù hợp hơn với thiếu niên. Năm 1907 ông tổ chức buổi đi trại đầu tiên cho 20 thiếu niên từ nhiều tầng lớp xã hội để kiểm nghiệm tính thực tiễn của ý tưởng mình. Baden-Powell cũng chịu ảnh hưởng lớn từ [[Ernest Thompson Seton]], người sáng lập Hội thủ công người Da Đỏ khi họ gặp nhau năm [[1906]]. ''[[Hướng đạo cho nam|Scouting for Boys]]'' sau đó được in những 6 lần chỉ riêng trong năm [[1908]]. Nhiều thiếu niên cả nam và nữ tự động thành lập những đội Hướng đạo và phong trào Hướng đạo phát triển mạnh mẽ, bắt đầu từ 1 quốc gia rồi lan ra bao trùm cả thế giới. Phong trào Hướng đạo từng phát triển song song với Lữ đoàn nam. Một đại hội Hướng đạo sinh được tổ chức ở [[Luân Đôn|London]] năm [[1909]], chính tại đây Baden-Powell thấy người nữ hướng đạo sinh đầu tiên. Phong trào Hướng đạo Nữ được thành lập năm sau đó dưới sự bảo hộ của em gái của Baden-Powell, bà [[Agnes Baden-Powell]].
 
Năm [[1920]], [[Trại Họp bạn Hướng đạo Thế giới lần thứ nhất]] được tổ chức ở Olympia và Baden-Powell được tôn làm Thủ lĩnh Hướng đạo Thế giới. Ông được phong chức Nam tước xứ Gilwell vào ngày [[17 tháng 9]] năm [[1929]]. [[Công viên Gilwell]] trở thành nơi huấn luyện [[huynh trưởng Hướng đạo]] của thế giới.
15.892

lần sửa đổi