Khác biệt giữa các bản “Nguyễn Trung Trực”

không có tóm lược sửa đổi
n (Đã lùi lại sửa đổi của Hoangdat bot (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của Namnguyenvn)
==Thân thế và sự nghiệp==
===Là dân chài===
Ông là em họ của Nguyễn Phúc Tĩnh Hòa (tức Huệ Phố công chúa) - con gái vua Minh Mạng - tức ông là cháu gọi Minh Mạng bằng bác họ.
 
Sinh ra dưới thời [[Minh Mạng]], thuở nhỏ ông có tên là '''Chơn'''. Từ năm [[Kỷ Mùi]] ([[1859]]) đổi là '''Lịch''' ('''Nguyễn Văn Lịch''', nên còn được gọi là '''Năm Lịch'''), và cũng từ tên ''Chơn'' ấy cộng với tính tình ngay thật, nên ông được thầy dạy học đặt thêm tên hiệu là '''Trung Trực'''.<ref>Ghi theo sách ''Hỏi đáp lịch sử Việt Nam tập 4'' (sách đã dẫn, tr. 46). Sách ''Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực (Nxb QĐND, 2008, tr. 54) và Phan Thành Tài (bài in trong Nam Bộ - đất và người, do Hội Khoa học lịch sử TP. HCM tổ chức biên soạn, NXB Trẻ, tr. 167), đều cho biết khi ông Trực lui quân về Hòn Chông, mới đổi tên thành Nguyễn Trung Trực.</ref>
 
Nguyên quán gốc Nguyễn Trung Trực ở xóm Lưới, thôn Vĩnh Hội, tổng Trung An, huyện Phù Cát, trấn Bình Định (ngày nay là thôn Vĩnh Hội, xã Cát Hải, huyện Phù Cát). Ông nội là Nguyễn Văn Đạo, cha là Nguyễn Văn Phụng (hoặc Nguyễn Cao Thăng) là chú họ của Nguyễn Phúc Tĩnh Hòa, mẹ là bà Lê Kim Hồng.
 
Sau khi hải quân Pháp nhiều lần bắn phá duyên hải Trung Bộ, gia đình ông phải phiêu bạt vào Nam, định cư ở xóm Nghề (một xóm trước đây chuyên nghề chài lưới), làng Bình Nhựt, tổng Cửu Cư Hạ, huyện Cửu An, Phủ Tân An (nay thuộc xã Thạnh Đức, huyện [[Bến Lức]], tỉnh [[Long An]]) và sinh sống bằng nghề chài lưới vùng hạ lưu sông Vàm Cỏ. Không rõ năm nào, lại dời lần nữa xuống làng Tân Thuận, tổng An Xuyên.(nay là xã Tân Tiến, huyện [[Đầm Dơi]], tỉnh [[Cà Mau]]).
Người dùng vô danh