Khác biệt giữa các bản “Thành Bát Quái”

n
không có tóm lược sửa đổi
n (thay bằng hình trên Commons)
n
{{dablink|Về tòa thành cùng vị trí tồn tại từ 1836 đến 1859 xin xem [[Thành Gia Định (1836-1859)]], về mục từ cùng tên xem tại [[Bát Quái (định hướng)]].}}
{{Infobox Military Structure
|name=Thành Gia Định
|location=[[Sài Gòn]] (hiện giờ là [[Thành phố Hồ Chí Minh]]), [[Việt Nam]]
|coordinates=
|image=[[Hình:Plan de la Villa 1795 by Le Brun.png|200px325px]]
|caption=Vị trí thành Bát Quái so với sông Sài Gòn năm 1795 do Le Brun vẽ
|type=[[Vauban]]
|events=
}}
[[Image:GiaLong.jpg|300px|right|thumb|Vua Gia Long của nhà Nguyễn]]
{{dablink|Về tòa thành cùng vị trí tồn tại từ 1836 đến 1859 xin xem [[Thành Gia Định (1836-1859)]], về mục từ cùng tên xem tại [[Bát Quái (định hướng)]].}}
'''Thành Bát Quái''' (còn gọi là '''thành Quy''') là một tòa thành của [[nhà Nguyễn]] thuộc [[Gia Định kinh]] xây dựng theo kiến trúc [[Vauban]] tồn tại từ năm [[1790]] đến năm [[1835]] ở khu vực mà ngày nay là trung tâm [[Thành Phố Hồ Chí Minh]], [[Việt Nam]]. Đây là một công trình có tính phòng thủ quan trọng, giúp các vua Nguyễn giữ vững an ninh vùng Gia Định trong một khoảng thời gian tương đối dài.<ref>Mantienne, Frédéric (October 2003). "The Transfer of Western Military Technology to Vietnam in the Late Eighteenth and Early Nineteenth Centuries: The Case of the Nguyen". Journal of Southeast Asian Studies 34 (3): trang số 525. doi:10.1017/S0022463403000468.</ref><ref name=vnthuquan/>
 
==Lịch sử==
Tháng 8 năm Đinh Dậu ([[7 tháng 9]] năm [[1788]]), lợi dụng khi quân [[Tây Sơn]] đang bận tái lập trật tự [[Bắc Hà]] và đánh [[Nhà Thanh|quân Thanh]], [[Nguyễn Ánh]] đánh chiếm được [[Sài Gòn]] và biến nơi đây thành cơ sở chống lại Tây Sơn.
[[Image:GiaLong.jpg|300px|right|thumb|Vua Gia Long của nhà Nguyễn]]
 
Tháng 8 năm Đinh Dậu ([[7 tháng 9]] năm [[1788]]), lợi dụng khi quân [[Tây Sơn]] đang bận tái lập trật tự Bắc Hà và đánh [[Nhà Thanh|quân Thanh]], [[Nguyễn Ánh]] đánh chiếm được Sài Gòn và biến nơi đây thành cơ sở chống lại Tây Sơn. Hai năm sau, [[1790]], Nguyễn Ánh chọn đất Sài Gòn làm [[kinh đô]], tên là ''[[Gia Định kinh]]''; rồi ông nhờ hai người Pháp là [[Olivier de Puymanel]] (Việt danh là "Ông Tín"<ref name=vnthuquan/>) và [[Le Brun]], đều là sĩ quan công binh Pháp) vẽ họa đồ và huy động 30.000 dân phu xây thành bảo vệ thật kiên cố theo kiến trúc Vauban nhưng mang hình Bát Quái, theo định hướng phong thổ Á Đông, theo mỹ thuật dân tộc Việt Nam<ref name=museum>[http://www.hcmc-museum.edu.vn/tintuc/default.aspx?cat_id=778&news_id=726 Địa lý hành chánh Sài Gòn- Thành Phố Hồ Chí Minh] của Bảo tàng thành phố Hồ Chí Minh</ref>, với tường thành cao mười lăm thước mộc, tính ra lối bốn thước tây lẻ tám tấc (khoảng 4 m 8), toàn bằng đá ong [[Biên Hòa]] kiểu "[[lục lăng]]"<ref name=vnthuquan>[http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nmnqnqn0n31n343tq83a3q3m3237nvn Sài Gòn năm xưa], phần 3-1, biên khảo của nhà khảo cổ học [[Vương Hồng Sển]].</ref>, nhằm củng cố chân đứng của mình trên đất [[Gia Định]]. Vào tháng 7 năm Nhâm Tý ([[1792]]), vua Quang Trung Nguyễn Huệ của nhà Tây Sơn băng hà, triều Tây Sơn lục đục nội bộ và rơi vào khủng hoảng, Nguyễn Ánh nhanh chóng tổ chức phản công và ông đánh bại nhà Tây Sơn sau đó nhiều năm. Sau khi tiêu diệt nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, hiệu là [[Gia Long]], rồi dời kinh đô từ Gia Định kinh (Sài Gòn) về [[Huế]].<ref name=sach>Trương Vĩnh Ký (ấn bản 1885) do Nguyễn Đình Đầu lược dịch và chú giải, Ký ức lịch sử về Sài gòn và các vùng phụ cận, NXB Trẻ, TP.HCM, 1997.</ref>
 
Tháng 7 năm Nhâm Tý ([[1792]]), vua Quang Trung [[Nguyễn Huệ]] của nhà Tây Sơn băng hà, [[triều Tây Sơn]] lục đục nội bộ và rơi vào khủng hoảng, Nguyễn Ánh nhanh chóng tổ chức phản công và ông đánh bại nhà Tây Sơn sau đó nhiều năm. Sau khi tiêu diệt nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, hiệu là [[Gia Long]], rồi dời kinh đô từ Gia Định kinh (Sài Gòn) về [[Huế]].<ref name=sach>Trương Vĩnh Ký (ấn bản 1885) do Nguyễn Đình Đầu lược dịch và chú giải, Ký ức lịch sử về Sài gòn và các vùng phụ cận, NXB Trẻ, TP.HCM, 1997.</ref>
 
Năm [[1811]], [[kinh thành Huế]] được làm xong thì Gia Định kinh được đổi thành Gia Định thành (cao hơn cấp trấn) và trở thành thị sở của quan Tổng trấn Nam Kỳ.
 
Năm [[1811]], [[kinh thành Huế]] được làm xong thì Gia Định kinh được đổi thành Gia Định thành (cao hơn cấp trấn) và trở thành thị sở của quan Tổng trấn Nam Kỳ. Đến đời vua Minh Mạng, năm [[1830]], [[Lê Văn Duyệt]] cho sửa thành Bát Quái. Tiếc thay việc sửa thành, cộng thêm tư thù khi còn trẻ với Lê Văn Duyệt (Lê Văn Duyệt đã cho xử chém Huỳnh Công Lý, cha đẻ một quí phi được vua Minh Mạng sủng ái<ref name=tuoitre>[http://www.tuoitre.com.vn/tianyon/Index.aspx?ArticleID=266385&ChannelID=10 Dân không thờ sai ai bao giờ!] bài viết về vở kịch của Tả quân Lê Văn Duyệt</ref>), vua [[Minh Mạng]] đã vu cho ông tội nhị tâm (''hai lòng'') cho quân sangsan bằng mồ mả sau khi Lê Văn DuyệnDuyệt mất<ref name=tuoitre/> làm [[Lê Văn Khôi]], con nuôi của Lê Văn Duyệt, nổi loạn, đánh chiếm lấy thành Bát Quái và biến nơi đây thành căn cứ chính cho [[Khởi nghĩa Lê Văn Khôi|cuộc nổi dậy của mình từ năm 1833 đến 1835]]. Sau khi đánh bại Lê Văn Khôi rồi, vua Minh Mạng đã cho phá thành Bát Quái để lập [[Thành Gia Định (1836-1859)|thành Gia Định mới]] năm [[1837]]. Chính vì sự phá hủy này mà thành Bát Quái còn bị gọi ''Gia Định phế thành''.<ref name=vnthuquan/>
 
:''Xem thêm [[Cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi]]''
 
==Kiến trúc và địa thế==
[[Hình:Citadel of Saigon before 1835.png|200px|right250px|thumb|Sơ đồ Thành Bát Quái Sài Gòn do [[Trương Vĩnh Ký]] vẽ, Nguyễn Đình Đầu lược dịch và chú giải]]
[[Hình:Citadel of Saigon 1815.png|200px|right250px|thumb|Vị trí thành Bát Quái (khu vực hình vuông nằm bên tay phải) và [[Chợ Lớn]] (khu vực hình chữ nhật nghiênnghiêng nghiênnghiêng bên tay trái)]]
Thành Bát Quái này gần như hình bát giác, có tám cổng theo mẫu bát quái tượng trưng cho tứ phương chính cùng với các hướng phụ. Thành trải rộng từ Nam đến Bắc, từ đường Mac-Mahon (bây giờ là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa) tới bức tường thành đã bị phá (bây giời là khu vực đường [[Đinh Tiên Hoàng]] và [[Tôn Đức Thắng]]) và từ Đông sang Tây, từ đường Espagne (bây giờ là đường [[Lê Thánh Tôn]]) đến đường Mọi (bây giờ là đường [[Nguyễn Đình Chiểu]]). Nguyễn Ánh đóng quân ở thành này suốt hai mươi hai năm, năm nào ông cũng đem quân đi đánh Tây Sơn khi gió mùa thuận lợi.