Khác biệt giữa các bản “Chiến dịch Huế - Đà Nẵng”

n
không có tóm lược sửa đổi
n
{{Thông tin chiến tranh
|conflict=Chiến dịch [[Huế]] - [[Đà Nẵng]]
|partof=[[Chiến dịch Mùa Xuân 1975|Chiến dịch mùa xuân năm 1975]]
|image= [[Tập tin:Flagtower Citadel of Huế.JPG|256px]]
|casualties1=Không rõ
|casualties2=Ngoài 8.000 quân xuống tàu vượt biển thoát vây, còn lại trên 120.000 quân bị tiêu diệt, bắt sống hoặc tan rã.<br>Hầu hết vũ khí bị phá hủy hoặc thu giữ (129 máy bay các loại, 216 khẩu pháo, 80 xe tăng, 47 tàu xuồng chiến đấu, 10 vạn tấn vũ khí các loại bị QĐNDVN thu giữ)
}}<br/>
{{campaignbox Vietnam War}}
'''Chiến dịch Huế-Đà Nẵng''' là một chiến dịch trong các chiến dịch lớn của cuộc [[Chiến dịch Mùa Xuân 1975|Tổng tấn công và nổi dậy Mùa xuân năm 1975]] do [[Quân đội Nhân dân Việt Nam|Quân đội nhân dân Việt Nam]] phát động, dẫn đến kết thúc cuộc [[Chiến tranh Việt Nam]]. Chiến dịch này bắt đầu từ ngày 5 tháng 3 đến ngày 29 tháng 3 năm 1975 sau khi chiến dịch Tây Nguyên bắt đầu được một ngày. Diễn biến các hoạt động quân sự của chiến dịch bao gồm ba chiến dịch nhỏ hơn được tiến hành gối nhau về thời gian: Chiến dịch Trị Thiên 1975., Chiến dịch Nam-Ngãi và Chiến dịch Đà Nẵng.
 
Giống như ở Tây Nguyên, sự can thiệp của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu với chiến lược "cố thủ" mới của ông ta cũng là một trong những nguyên nhân đưa đến việc Quân khu I thất thủ. Kết quả của chiến dịch này là [[Quân đoàn I]] [[Quân lực Việt Nam Cộng hòa|Quân lực Việt Nam Cộng hoà]] phải rút bỏ Quân khu I. Để tránh nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn, [[Quân đoàn II]] phải bỏ lại toàn bộ địa bàn ven biển miền Trung Trung bộ. Hai quân đoàn này sau đó đã phải giải thể. Những đơn vị còn lại được sáp nhập vào [[Quân đoàn III]]. Tuyến phòng thủ của QLVNCH đã lùi từ mức 1 (giữ Huế-[[Đà Nẵng]] trở vào) xuống dưới mức 5 (giữ Ninh Thuận trở vào), làm phá sản những dự kiến hồi tháng 8 năm 1974 trong bản Kế hoạch quân sự Lý Thường Kiệt 1975 cũng như kế hoạch phòng thủ 5 mức đã được tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vạch ra ngày 11 tháng 3 năm 1975. Quân đội Nhân dân Việt Nam có thời cơ để đẩy nhanh sự tan rã của QLVNCH và sự sụp đổ của Việt Nam Cộng hoà.
==Lực lượng các bên==
===Quân đội Nhân dân Việt Nam===
 
'''Binh lực'''
 
''Tại Trị Thiên Huế và [[Đà Nẵng]]'': Tháng 3 năm 1975, lực lượng [[Quân đội nhân dân Viêt Nam]] trên địa bàn Trị Thiên Huế có Quân đoàn 2 - Binh đoàn Hương Giang (thành lập tháng 5 năm 1974) gồm các sư đoàn bộ binh 304, 324, 325; sư đoàn phòng không 673; lữ đoàn pháo binh 164; lữ đoàn xe tăng 203; lữ đoàn công binh 219; trung đoàn thông tin 463. Lực lượng quân khu Trị Thiên Huế (B5 cũ) có mặt trên địa bàn gồm các trung đoàn bộ binh 4, 46, 271, tiểu đoàn bộ binh độc lập số 21, 6 tiểu đoàn quân địa phương, một trung đoàn pháo binh cơ giới, một trung đoàn cao xạ, một trung đoàn công binh, một tiểu đoàn đặc công, một tiểu đoàn vận tải cơ giới.<ref>Trịnh Vương Hồng - Phạm Hữu Thắng. Lịch sử chiến dịch Trị-Thiên và chiến dịch [[Đà Nẵng]] Xuân 1975. NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2006. trang 13.</ref>.
 
''Tại địa bàn phía Bắc khu 5'', sư đoàn bộ binh 2 chủ lực khu sau chiến dịch Nông Sơn - Thượng Đức, trung đoàn 141 (sư đoàn 3), các trung đoàn pháo binh 368 và 572, lữ đoàn bộ binh 52, trung đoàn địa phương 96 (Quảng Đà), trung đoàn địa phương 94 (Quảng Ngãi), các tiểu đoàn địa phương 70 và 72 (Quảng Nam) đã đứng chân trên các bàn đạp chiến lược tại khu vực Trung Phước - Quế Sơn, đối diện với tuyến phòng thủ của sư đoàn 2 QLVNCH ở Tiên Phước-Phước Lâm-Suối Đá.<ref>Lê Minh Tân. Lịch sử sư đoàn bộ binh 2. Tập 1 (1965-1975). NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 1989. trang 139.</ref><ref name="ReferenceA">Phạm Ngọc Thạch - Hồ Khang và tập thể tác giả. Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tập VIII. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội. Trang 315, 316, 319.</ref>
 
'''Chỉ huy'''
:Phó tư lệnh: Đại tá [[Hoàng Đan]].
:Phó chính uỷ: Đại tá Nguyễn Công Trang.
''Quân khu Trị-Thiên''{{Chiến tranh Việt Nam}}
Sở chỉ huy Quân đoàn đóng tại Động Truồi (Tây Nam Huế).<ref>Phạm Gia Đức - Phạm Quang Định. Lịch sử Quân đoàn 2 (1974-2004). NXB Quân đội nhân dân. 2004. trang 16, 68.</ref>
 
''Quân khu Trị-Thiên''
Sở chỉ huy Quân đoàn đóng tại Động Truồi (Tây Nam Huế)
<ref>Phạm Gia Đức - Phạm Quang Định. Lịch sử Quân đoàn 2 (1974-2004). NXB Quân đội nhân dân. 2004. trang 16, 68.</ref>
 
''Quân khu Trị-Thiên''{{Chiến tranh Việt Nam}}
:Tư lệnh kiêm chính uỷ: [[Thiếu tướng]] [[Lê Tự Đồng]].
:Phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng: Đại tá [[Dương Bá Nuôi]].
Trước khi kế hoạch tấn công Đà Nẵng của Bộ tư lệnh chiến dịch ra đời, ngày 24 tháng 3, sư đoàn 325 (Quân đoàn 2 QĐNDVN) đã tấn công lữ đoàn 258 thủy quân lục chiến và liên đoàn bảo an 914 QLVNCH tại Bắc [[Đèo Hải Vân|Hải Vân]], đánh chiếm đèo Phước Tượng, các cứ điểm Nước Ngọt, Thổ Sơn và ga Thừa Lưu. Trận dịa pháo binh của QLVNCH tại Phước Tượng rơi vào tay QĐNDVN và được sử dụng ngay cho trận đánh tiếp theo. Ngày 27 tháng 3, đến lượt các cứ điểm Phú Gia, Hải Vân bị tấn công. Sau 5 giờ chống cự với sự yểm hộ của các máy bay [[Cessna A-37 Dragonfly|A-37]] từ sân bay Đà Nẵng và pháo binh từ trận địa Lăng Cô, liên đoàn 258 thủy quân lục chiến và liên đoàn bảo an 914 tan vỡ phần lớn quân số. [[Sư đoàn 325, Quân đội Nhân dân Việt Nam|Sư đoàn 325]] thừa thắng đánh thốc qua các Sơ Hải, Loan Lý, An Bảo và Lăng Cô. Hơn 30 khẩu pháo các cỡ của các trung đoàn pháo binh 84 và 164 QĐNDVN được triển khai cấp tốc tại các trận địa Sơn Thạch, Sơn Khánh, đèo Mũi Trâu đã bắn trực chỉ vào các căn cứ của QLVNCH tại thành phố Đà Nẵng từ 5 giờ 30 phút sáng ngày 28 tháng 3.<ref>Lịch sử sư đoàn 325. Tập 2. NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 1986. trang 202</ref><ref>Phạm Ngọc Thạch - Hồ Khang và tập thể tác giả. Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tập VIII. NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2008. trang 339.</ref>
 
Trên hướng Tây Nam, khi phát hiện [[sư đoàn 304, Quân đội Nhân dân Việt Nam|sư đoàn 304]] QĐNDVN tiến hành trinh sát chiến đấu, lữ đoàn 369 thủy quân lục chiến bỏ núi Sơn Gà về giữ tuyến trong. Ngày 28 tháng 3, trung đoàn 66 (sư đoàn 304) đánh chiếm quận lỵ Ái Nghĩa và [[sân bay Nước Mặn]], trung đoàn 24 cũng của sư đoàn này tấn công căn cứ Hòa Cầm và Tòa thị chính thành phố. Lữ đoàn 369 thủy quân lục chiến phải lùi về An Đông, Mỹ Khê và bị sư đoàn 2 (Quân khu 5) hợp vây.<ref>Nguyễn Huy Toàn - Phạm Quang Định. Lịch sử sư đoàn bộ binh 304. Tập 2. NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 1990. trang 214.</ref>. Hơn 3.000 tân binh QLVNCH tại trại Hòa Cầm nổi loạn, bắn giết các sĩ quan chỉ huy, phá doanh trại, ra hàng QĐNDVN hoặc bỏ chạy về quê quán.<ref>Dương Hảo. Một chương bi thảm. NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 1980. trang 195.</ref> 6 giờ 30 phút sáng ngày 29 tháng 3, các cụm chốt trên đỉnh đèo Hải Vân của QLVNCH bị tràn ngập. Các đơn vị thuộc sư đoàn 325 QĐNDVN tràn xuống đánh chiếm kho xăng Liên Chiểu, cầu Nam Ô, cầu Trịnh Minh Thế, mở đường cho xe tăng tiến ra bán đảo Sơn Trà và quân cảng.
 
Trên hướng Tây Bắc, lúc 12 giờ 30 phút ngày 29 tháng 3, trung đoàn 9, [[sư đoàn 304, Quân đội Nhân dân Việt Nam|sư đoàn 304]] QĐNDVN có 1 tiểu đoàn xe tang đi cùng đánh chiếm sở chỉ huy sư đoàn 3 QLVNCH và toàn bộ khu vực Phước Tường, Hòa Khánh. Ở hướng Nam, sư đoàn 2 (Quân khu 5) được tăng cường 1 tiểu đoàn xe tăng và 1 tiểu đoàn pháo binh đã đánh chiếm khu vực Bà Rén lúc 9 giờ sáng ngày 28 tháng 3. Tướng Ngô Quang Trưởng lệnh cho tướng Khánh (tư lệnh sư đoàn 1 không quân) dùng 4 phi đội A-37 đánh sập cầu Bà Rén và cầu Câu Lâu nhưng không cản được sư đoàn 2 QĐNDVN vượt sông bằng xuồng, ghe, bè, mảng. Hồi 5 giờ 55 phút sáng 29 tháng 3, Vĩnh Điện, cứ điểm phòng thủ vòng ngoài cuối cùng của QLVNCH tại phía Nam Đà Nẵng bị QĐNDVN đánh chiếm.<ref>Trịnh Vương Hồng - Phạm Hữu Thắng. Lịch sử chiến dịch Trị Thiên và chiến dịch Đà Nẵng xuân 1975. NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2006. trang 151.</ref> 12 giờ sáng ngày 29 tháng 3, Sở chỉ huy Quân đoàn I QLVNCH bị đánh chiếm. Tướng Ngô Quang Trưởng và các chỉ huy cao cấp của QLVNCH tại Quân khu I đã được trực thăng bốc ra tàu HQ-404 từ 9 giờ 30 sáng. 12 giờ 30 phút trưa ngày 29 tháng 3, tất cả các mục tiêu quan trọng như Tòa thị chính, sân bay Đà Nẵng, sân bay Nước Mặn, Đài phát thanh, Ty Cảnh sát, Ngân hàng quốc gia, Trụ sở quân tiếp vụ... đều đã bị QĐNDVN đánh chiếm<ref>Phạm Ngọc Thạch - Hồ Khang và tập thể tác giả. Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tập VIII. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội. 2008. trang 343-344</ref>
Bên phía QLVNCH, việc chỉ huy các đơn vị dưới quyền của tướng Ngô Quang Trưởng đã hoàn toàn không thể thực hiện được từ chiều 28 tháng 3. Việc sư đoàn 3 tan chạy lúc 5 giờ chiều ngày 28 tháng 3 đã làm cho sư đoàn TQLC (thiếu) bị hở sườn và bị đánh vu hồi từ phía sau.<ref>Hồi ức của đại tá Nguyễn Thành Trí. Dẫn theo Lê Anh Kiệt. Tướng lĩnh Sài Gòn tự thuật. NXB Công an nhân dân. Hà Nội. 2003. trang 161.</ref> Trước đó, 6.000 quân của sư đoàn 2 đã đào ngũ, rã ngũ, không còn kỷ luật và tinh thần chiến đấu nữa. Ngay từ ngày 25 tháng 3, cụm trưởng [[Cơ quan Tình báo Trung ương (Hoa Kỳ)|CIA]] tại Đà Nẵng, ông Francis đã điện cho cấp trên là ông Polga ở Sài Gòn đề nghị lập cầu hàng không Đà Nẵng - Sài Gòn để di tản người Mỹ, nhân viên người Việt và được chấp thuận với điều kiện chỉ sử dụng máy bay dân sự. Cùng với việc điều động các tàu của vùng I và vùng II hải quân QLVNCH, tướng Smith cũng cho 5 tàu kéo xà lan, 6 tàu khách và 3 tàu hàng ra Đà Nẵng giúp vào việc di tản.<ref>Frank Snepp. Cuộc tháo chạy tán loạn. Dịch giả: Ngô Dư. NXB Thành phố Hồ Chí Minh. 2001. trang 162-164.</ref>
 
Nếu việc di tản của người Mỹ và nhân viên người Việt của họ diễn ra tương đối trật tự thì việc rút quân của các đơn vị QLVNCH còn sống sót ra các tàu của hải quân QLVNCH lại xảy ra trong hỗn loạn. Nhà báo [[Alan Dawson]] mô tả Đà Nẵng trong ngày 28 tháng 3: ''"Binh lính rã ngũ nổi loạn, cố sức thoát ra hoặc vơ vét cái gì có thể kiếm được trong khoái lạc bắn giết và cướp bóc. Các tướng tá thì đang hoạch định các chuyến bay để bí mật trốn thoát... Suốt đêm, sự huỷ hoại, vơ vét, trộm cướp và hãm hiếp tiếp diễn. Toà nhà lãnh sự Mỹ, con voi trắng bị lột chỉ còn trơ cái vỏ"''.<ref>Alan Dawson. 55 ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ. Dịch giả: Cao Minh. NXB Sự Thật. Hà Nội. 1990. trang 37.</ref>. Chiều 29 tháng 3, các đơn vị thuộc các sư đoàn 2, 304, 324, 325, lữ đoàn thiết giáp 203 lần lượt tiến vào Đà Nẵng và trận tự được lập lại. Gần 9 vạn sĩ quan, binh lính QLVNCH và nhân viên dân sự của VNCH không kịp lên tàu biển và máy bay để di tản đã ra trình diện. Chiến dịch Huế-Đà Nẵng kết thúc.<ref>Phạm Ngọc Thạch - Hồ Khang và tập thể tác giả. Tập VIII. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội. 2008. trang 345.</ref>
 
==Kết quả chiến dịch==
 
====Những nhận định trái chiều và phản ứng của Hoa Kỳ====
Việc QLVNCH để mất toàn bộ Quân khu I chỉ trong vòng 25 ngày đã làm cho VNCH mất đứt 50% lãnh thổ của họ, làm rung động cả [[Washington]] và Sài Gòn và là màn mở đầu cho giai đoạn cuối cùng của VNCH.<ref>Alan Dawson. 55 ngày, chế độ Sài Gòn sụp đổ. Dịch giả: Cao Minh. NXB Sự Thật. Hà Nội. 1990. trang 39.</ref>. Chi nhánh [[Cơ quan Tình báo Trung ương (Hoa Kỳ)|CIA]] tại Sài Gòn nhận định trong báo cáo gửi về Washington ngày 31 tháng 3: ''"Căn cứ vào sự thiệt hại mới đây về thiết bị và sự uy hiếp thường xuyên của quân Bắc Việt Nam trên khắp các mặt trận thì quân chính phủ trong thời gian trước mắt, không thể nào phục hồi lại được. Thật vậy, những gì gây ra cuộc khủng hoảng này không hề thay đổi dù ở Sài Gòn, Hà Nội hay Washington. Chiến tranh Việt Nam đã hoàn toàn đảo ngược trong mấy tuần lễ. Một thảm họa quân sự là chắc chắn"''.<ref>Frank Snepp. Cuộc tháo chạy tán loạn. Dịch giả: Ngô Dư. NXB Thành phố Hồ Chí Minh. 2001. trang 164.</ref> Tuy nhiên, tướng [[Freidric Weyand]], tham mưu trưởng lục quân Mỹ sang Sài Gòn để thị sát và tìm hiểu sự thật tình hình Việt Nam Cộng hòa từ ngày 30 tháng 3 đến ngày 3 tháng 4 lại có sự đánh giá khác hẳn: ''"Lực lượng Nam Việt Nam không mất tinh thần, xét theo bất cứ khía cạnh nào. Quân đội Sài Gòn sẽ đứng lên chiến đấu ở Bắc Nha Trang và họ quyết tâm làm chậm bước tiến của cộng sản. Họ đang cho thấy mọi việc được thực hiện rất tốt”''. Ông ta còn cho rằng: ''"Cộng sản, sau khi chiếm được những vùng lãnh thổ rộng lớn và những trung tâm dân cư, sẽ phải ngừng bước tiến để củng cố thành quả và bổ sung lực lượng"''.<ref>Alan Dawson. 55 ngày, chế độ Sài Gòn sụp đổ. Dịch giả: Cao Minh. NXB Sự Thật. Hà Nội. 1990. trang 41.</ref>. Trong khi đó thì đại sứ Hòa Kỳ [[Graham Martin]] lại không có mặt ở Sài Gòn để nắm tình hình vì phải về Hoa Kỳ chữa răng. Mọi việc được giao cho phó đại sứ Lehman nhưng ông này lại không có đủ thẩm quyền giải quyết.<ref>Frank Snepp. Cuộc tháo chạy tán loạn. Dịch giả: Ngô Dư. NXB Thành phố Hồ Chí Minh. 2001. trang 160.</ref>
 
Những nhận định trái chiều nhau trên đây của hai giới tình báo và quân sự đã gây ra trong chính giới Hoa Kỳ những ý kiến trái ngược nhau về giải pháp cho tình hình: Trong khi Kissinger tuyên bố: ''"Hoa Kỳ không thể có một chính sách không nhất quán. Chúng ta không thể bỏ những người bạn của chúng ta ở vùng này của thế giới mà không làm cho nền an ninh của những người bạn khác bị uy hiếp"'' và đòi bằng được việc bổ sung thêm 300 triệu USD quân viện cho VNCH thì Bộ trưởng quốc phòng Schlesinger lại bí mật cho giới báo chí biết rằng số quân viện 700 triệu USD cho Sài Gòn hoặc chưa dùng đến, hoặc đã tiêu phí hết rồi.<ref>Frank Snepp. Cuộc tháo chạy tán loạn. Dịch giả: Ngô Dư. NXB Thành phố Hồ Chí Minh. 2001. trang 165.</ref> Rốt cuộc, đã không có một sự can thiệp nào đáng kể ngoài việc Bộ chỉ huy Hoa Kỳ ở Tây Thái Bình Dương được lệnh đưa hạm đội [[tàu sân bay]] Oriskani đến vùng biển Nam Việt Nam để chuẩn bị di tản người Mỹ.
Tuy nhiên, tướng Phạm Văn Phú và bộ tham mưu của ông ta vẫn không tránh khỏi lối tư duy cũ mà họ vẫn tuân theo lâu nay là đối phương phải dừng lại để củng cố đã rồi mới có thể tiếp tục tấn công. Không ai nghĩ đến việc Quân đội nhân dân Việt Nam đã nhanh chóng để lại phần đất đã chiếm được cho các lực lượng địa phương quản lý và tung lực lượng chủ lực hầu như chưa sứt mẻ đáng kể truy đuổi QLVNCH dọc theo bờ biển miền Trung. Cũng không ai nghĩ đến việc Hà Nội đã trao thêm quyền quyết định cho các tư lệnh chiến trường để các quyết định này không bị lạc hậu với diễn biến tình hình đồng thời buộc các đơn vị tiếp liệu, hậu cần của họ phải bằng mọi cách cơ động, đuổi kịp, cung cấp đầy đủ cho xe tăng, bộ binh trong hành tiến.<ref>Alan Dawson. 55 ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ. Dịch giả: Cao Minh. NXB Sự Thật. Hà Nội. 1990. trang 54.</ref>
 
Những sai lầm đó đã buộc các đơn vị QLVNCH trên chiến trường phải trả giá. Lúc 5 giờ 15 phút ngày 31 tháng 3, trên đường rút về Phú An - Lai Nghi, trung đoàn 47 (sư đoàn 22) bị trung đoàn 2, sư đoàn 3 Sao Vàng phục kích và truy đuổi. Đến sân bay Phù Cát, đơn vị này tiếp tục bị trung đoàn 192 (sư đoàn 3 Sao Vàng) cùng với trung đoàn 2 hợp vây và bị tan rã lúc 12 giờ 30 phút cùng ngày.<ref>Lịch sử sư đoàn 3 Sao Vàng. NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 1983. trang 195.</ref> Trung đoàn 41 (sư đoàn 22) đang đóng từ Núi Một đến Phú Phong bị trung đoàn 95 QĐNDVN từ Tây Nguyên tập kích xuống. TtrênTrên đường rút quân về Phú Xuân, Phú An, trung đoàn này đã bị trung đoàn 141 (sư đoàn Sao Vàng) phục kích tại nghĩa địa Phật Giáo, bị truy kích suốt đêm 31 tháng 3 và hầu như tan rã hoàn toàn.<ref>Lịch sử sư đoàn 3 Sao Vàng. NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 1983. trang 196.</ref>. Trung đoàn 42 tuy không bị công kích mạnh nhưng khi về đến ga Diêu Trì chỉ còn một nửa quân số. Thị xã Quy Nhơn bị QĐNDVN đánh chiếm sáng ngày 1 tháng 4. Ngày 2 tháng 4, QĐNDVN đánh chiếm Tuy Hoà. Do không nắm được tình hình, chuẩn tướng Trần Văn Cẩm, phó tư lệnh Quân đoàn II đã bị bắt làm tù binh khi vừa dùng trực thăng hạ cánh xuống dinh tỉnh trưởng Tuy Hòa trong một chuyến thị sát chiến trường.<ref>Dương Hảo. Một chương bi thảm. NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội 1980. trang 201.</ref>
 
Sự kiện sư đoàn 22 với hơn 10.000 quân được trang bị tương đối đầy đủ bị tan rã gần hết trong vòng một ngày khiến tình hình tại Nha Trang cũng hỗn loạn không kém ở Quy Nhơn và Tuy Hoà. Sáng ngày 1 tháng 4, hơn 3.000 quân của Trung tâm huấn luyện Lam Sơn bỏ chạy vào thị xã. Thêm vào đó là gần 1.000 quân phạm đã phá trại, kéo nhau đi lang thang và cướp bóc trên đường phố. Đại tá Thưởng, tư lệnh bộ chỉ huy quân tiếp vụ 5 dẫn một số quân cảnh ra vãn hồi trật tự nhưng cũng bị đám loạn quân bắn chết tại chỗ. Sau sự kiện này, không một viên chỉ huy nào dám đứng ra vãn hồi trật tự tại Nha Trang nữa.<ref>Dương Hảo. Một chương bi thảm. NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 1980. trang 203-203.</ref> Tỉnh trưởng Khánh Hòa, đại tá Lý Bá Phẩm đã bỏ nhiệm sở lên máy bay vào Phan Rang sau một cú điện thoại cụt lủn gọi về Sài Gòn: "Tôi đi đây. Tình hình tuyệt vọng rồi". Chỉ trong một buổi chiều ngày 2 tháng 4, Nha Trang đã rơi vào tay QĐNDVN mà không có một trận đánh xảy ra.<ref>Alan Dawson. 55 ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ. Dịch giả: Cao Minh. NXB Sự Thật. Hà Nội. 1990. trang 57.</ref> Sau sự kiện Đà Nẵng sụp đổ mà tổng thống Hoa Kỳ [[Gerald Ford]] gọi đó "là một tấn thảm kịch lớn";<ref>Frank Snepp. Cuộc tháo chạy tán loạn. Dịch giả: Ngô Dư. NXB Thành phố Hồ Chí Minh. 2001. trang 143.</ref> QLVNCH đã mất hầu hết miền Trung. Ngày 2 tháng 4, tỉnh cuối cùng trên địa bàn Tây Nguyên (Lâm Đồng) cũng bị bỏ ngỏ. Việc bố trí các đơn vị còn lại trên hai chốt chặn lớn tại Đèo Phượng Hoàng (trên đường 21) và Đèo Cả (tại Phú Yên) cũng thất bại. Lữ đoàn dù số 3 đã bỏ chạy một mạch từ đèo Phượng Hoàng về Cam Ranh. 14 giờ chiều ngày 2 tháng 4, thiếu tướng Lê Văn Hiếu, phó tư lệnh Quân đoàn III bay ra Phan Thiết thông báo cho tướng Phạm Văn Phú biết quyết định của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu sáp nhập các đơn vị và phần đất còn lại của Quân đoàn II - Quân khu II (Ninh Thuận, Bình Thuận) vào Quân khu III. Tướng Phú hết quân, hết đất, lặng lẽ bay vào Sài Gòn để trình diện Bộ tổng tham mưu và sau đó bị quản thúc vì tội đã để mất cả một quân khu quan trọng vào tay đối phương.<ref>Dương Hảo. Một chương bi thảm. NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 1980. trang 203-204.</ref>
 
===Thái độ tiền hậu bất nhất của Nguyễn Văn Thiệu===
Ngay cả lúc bấy giờ và cho đến hiện nay, giới nghiên cứu chính trị và quân sự Việt Nam cũng như quốc tế đều đi đến kết luận rằng các thảm họa quân sự tại miền Trung và Tây Nguyên trong tháng 3 năm 1975 đều có chung một thủ phạm, đó là Nguyễn Văn Thiệu với những quyết định tồi tệ đến mức nhà báo phái hữu Paul Dreyfrus đã phải đánh giá: "Thiệu đã tỏ rõ những hạn chế về tầm chiến lược; ngồi ở vị trí cao nhất: tướng - tổng thống, tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang nhưng ông ta đã hành động như một viên hạ sĩ quan thiển cận".<ref>Paul Dreyfrus. Sài Gòn sụp đổ (nguyên tác tiếng Pháp Et Saigon tombe). Dịch giả: Lê Kim. NXB Công an nhân dân. Hà Nội. 2004. trang 62.</ref>
 
Trong thời gian xảy ra những biến cố quân sự quan trọng tại Quân khu I và Quân khu II, Nguyễn Văn Thiệu đã có đến ba bốn quyết định trái ngược nhau, tiền hậu bất nhất, thay đổi nhanh như chong chóng trong vòng vài ngày, không để cho các tướng dưới quyền có thì giờ tổ chúc lại việc phòng thủ.<ref>Frank Snepp. Cuộc tháo chạy tán loạn. Dịch giả: Ngô Dư. NXB Thành phố Hồ Chí Minh. 2001. trang 147.</ref> Ngày 14 tháng 3, chính Nguyễn Văn Thiệu đã ra lệnh cho Phạm Văn Phú bỏ Tây Nguyên rút về đồng bằng ven biển. Trước đó, ngày 13 tháng 3, cũng đích thân ông ta đã ra lệnh cho Ngô Quang Trưởng phải bỏ Quân khu I và trả sư đoàn dù về Sài Gòn khiến Ngô Quang Trưởng uất ức, cay đắng và kinh tởm.<ref>Gabriel Kolko. Giải phẫu một cuộc chiến tranh. Dịch giả: Nguyễn Tấn Cưu. NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2003. trang 427.</ref>. Đến ngày 17 tháng 3, sau khi có sự can thiệp của đại tướng Cao Văn Viên, ông ta lại chấp nhận kế hoạch tử thủ một gốc hai cành của tướng Trưởng. Nhưng ngay ngày hôm sau, 18 tháng 3, ông ta lại lệnh cho các tướng Ngô Quang Trưởng và Lâm Quang Thi phải bỏ Huế, chỉ phòng thủ một khu vực (Đà Nẵng).<ref name="ReferenceC"/><ref name="vietnamconghoa.com">[http://www.vietnamconghoa.com/article.php?QRY=S&LEVEL=12&tid=133 Ngô Quang Trưởng. Vì sao tôi bỏ Quân đoàn I]</ref>
 
Ngày 29 tháng 3, khi tướng Trưởng là một trong những sĩ quan cao cấp cuối cùng của QLVNCH rút khỏi Đà Nẵng trên tàu HQ-404 thì Nguyễn Văn Thiệu lại ra một mệnh lệnh qua điện thoại yêu cầu tướng Trưởng quay lại tái chiếm Đà Nẵng khiến ông này phải trả lời ông Thiệu ngay rằng "bây giờ tôi lấy ai theo chân tôi để tái chiếm Đà Nẵng? Lính tráng đã phân tán mỗi người một nơi. Cấp chỉ huy thì mạnh ai nấy thoát. Làm sao tôi có thể làm chuyện đó được?"<ref name="vietnamconghoa.com"/><ref>Lê Anh Kiệt. Tướng lĩnh Sài Gòn tự thuật. NXB Công an nhân dân. Hà Nội. 2003. trang 163.</ref> Những quyết định đó sau này đã làm cho tướng Ngô Quang Trưởng phải đi đến kết luận rằng: "Cái lẩm cẩm của trung ương là không cho các thuộc cấp biết ý định của mình. Nghĩa là tư lệnh các quân, binh chủng, tổng bộ trưởng, tư lệnh sư đoàn. v.v... đều không biết gì về lệnh rút quân của Quân đoàn I và Quân đoàn II cả... Do đó, thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa tham mưu và các cấp, không có kế hoạch rút quân đàng hoàng, lệnh đột ngột không đủ thời gian để xếp đặt".<ref name="vietnamconghoa.com"/>
892

lần sửa đổi