Khác biệt giữa các bản “Ngụ binh ư nông”

 
== Nội dung ==
Đây là chính sách xây dựng quân đội gắn liền với [[nông dân]], [[nông nghiệp]] và [[đồng quê|nông thôn]]. [[Quân đội nhà Đinh|Nhà Đinh]] là triều đại [[phong kiến]] đầu tiên ở Việt Nam áp dụng chính sách này. Bắt đầu từ thời Lý, quân đội được xây dựng mang tính chính quy và phân cấp thành quân triều đình (cấm quân đóng ở trong và xung quanh kinh thành, chịu trách nhiệm canh gác cung điện, phủ quan..., còn gọi là "thiên tử binh") và quân địa phương (quân ở các lộ, đạo, dân binh ở hương, động, sách... còn gọi là "lộ quân'' hay ''sương quân''). Sang thời Trần có thêm quân của các vương hầu nhưng số lượng không đáng kể. TớiSang thời Hậu thì lực lượng này bị xoá bỏ, chính sách ngụ binh ư nông áp dụng cả với cấm quân ở kinh thành<ref name="bachkhoathu"/>. Từ thời [[nhà Mạc|Mạc]], áp dụng chế độ "lộc điền" (hay còn gọi là “binh điền”) nhằm ưu đãi cho lực lượng quân đội, chính sách ngụ binh ư nông không còn được áp dụng<ref name="vsh52">Viện sử học (1996), sách đã dẫn, tr 52</ref>. Tới khoảng năm 1790, một dạng của phép ngụ binh ư nông được [[Gia Long|Nguyễn Ánh]] thi hành ở khu vực [[Gia Định]], miền cực nam [[Đại Việt]], theo đó binh lính cũng được huy động vào việc sản xuất [[nông nghiệp]]. Họ vừa tham gia chiến đấu vừa [[Gia Long#Ổn định Nam Hà|được khuyến khích lẫn bị bắt buộc cầy cấy]] để tận dụng các mảnh đất bị bỏ hoang vì chiến tranh<ref>Sơn Nam, sách đã dẫn, tr 55-56</ref>.
 
Chính sách "ngụ binh ư nông" trong thời bình bao gồm hai vấn đề cơ bản là ''cách thức tuyển binh'' và ''phiên cấp quân đội ở địa phương'':
===Phiên cấp quân đội địa phương===
Việc phiên cấp quân địa phương (chia phiên và thời gian tập luyện) khá thuần nhất và đóng vai trò nòng cốt trong chính sách "ngụ binh ư nông". Sau mỗi lần tuyển binh, quân địa phương được chia thành nhiều "phiên" (một phiên là một đơn vị quân, số lượng tuỳ vào từng địa phương, cốt lấy người khỏe mạnh đủ có thể tham gia quân ngũ<ref>Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn, sách đã dẫn, tr 182</ref>). Các phiên sẽ thay nhau tập trung tập luyện tại doanh trại trong một khoảng thời gian nhất định. Mỗi tháng sẽ tiến hành đổi phiên một lần. Việc thay phiên thường được thực hiện vào mồng Một hoặc ngày Rằm. Như vậy trong thời bình, binh lính chia nhau vừa sản xuất nông nghiệp ở địa phương vừa tập luyện ở doanh trại.
 
[[Nhà Trần]] kế thừa chính sách này của nhà Lý. Thời Lý, Trần triều đình chỉ cấp lương cho quân túc vệ, còn sương binh tự túc lương thực. Sang thời Hậu Lê, chính sách ngụ binh ư nông áp dụng cả với cấm quân ở kinh thành<ref name="bachkhoathu"/>. Từ thời [[nhà Mạc|Mạc]], áp dụng chế độ "lộc điền" (hay còn gọi là “binh điền”) nhằm ưu đãi cho lực lượng quân đội, chính sách ngụ binh ư nông không còn được triều đaị nào áp dụng<ref name="vsh52">Viện sử học (1996), sách đã dẫn, tr 52</ref>. Tới khoảng năm 1790, một dạng của phép ngụ binh ư nông được [[Gia Long|Nguyễn Ánh]] thi hành ở khu vực [[Gia Định]], miền cực nam [[Đại Việt]], theo đó binh lính cũng được huy động vào việc sản xuất [[nông nghiệp]]. Họ vừa [[Gia Long#Ổn định Nam Hà|được khuyến khích lẫn bị bắt buộc cầy cấy]] để tận dụng các mảnh đất bị bỏ hoang vì chiến tranh<ref>Sơn Nam, sách đã dẫn, tr 55-56</ref>.
 
== Tác dụng ==
619

lần sửa đổi