Khác biệt giữa các bản “Kendo”

→‎Lịch sử: Này thì vi phạm bản quyền (hãy xem Thảo luận để hiểu nguyên nhân tôi xóa)
(Đã lùi lại sửa đổi của Xichde (thảo luận). (TW))
(→‎Lịch sử: Này thì vi phạm bản quyền (hãy xem Thảo luận để hiểu nguyên nhân tôi xóa))
'''Kendo''' {{nihongo||剣道|kyu=劍道|hg=けんどう|hanviet=Kiếm đạo|Kendo|Ken có nghĩa là kiếm, Do có nghĩa là đạo; Kendo -Kiếm đạo hay Đạo dùng kiếm}}, là một môn [[võ thuật]] đánh [[kiếm]] hiện đại của [[Nhật Bản]], phát triển từ các kỹ thuật truyền thống của kiếm sĩ Nhật, ví dụ như [[Kiếm thuật Nhật Bản: Katori Shintō-ryū|kenjutsu Katori Shintō-ryū]]. Từ năm [[1975]], mục đích của Kendo được đề ra bởi [[Liên đoàn Kendo Nhật Bản]] là để "trui rèn nhân cách con người thông qua đường kiếm" Tuy nhiên, Kendo kết hợp các giá trị võ thuật với các yếu tố [[thể thao]], có người luyện tập ưa thích phần võ thuật cũng có người chuộng phần thể thao.
 
Sau [[chiến tranh thế giới thứ hai|chiến tranh thế giới thứ 2]], Kendo đã bị tạm dừng dưới sự chiếm đóng của quân đồng minh. Trong năm 1952, khi [[Liên đoàn Kendo Nhật Bản]] (All Japan Kendo Federation) được thành lập, Kendo mới sống lại và tiếp tục phát triển. Kendo ngày nay đóng vai trò quan trọng trong sự giáo dục ở trường học và rất nhiều người già, trẻ, gái, trai đều yêu thích, có hàng triệu người ở mọi lứa tuổi đang tham gia tập luyện Kendo đều đặn. Ngoài ra, Kendo cũng đang được yêu thích trên toàn thế giới, có ngày càng nhiều người tập Kendo tại các nước. [[Liên đoàn Kendo quốc tế]] ('''The International Kendo Federation – FIK''') được thành lập vào năm 1970 và giải Vô địch Kendo Thế giới được tổ chức 3 năm một lần và lần đầu tiên tại Nippon Budokan trong cùng năm đó. Vào tháng7 năm 2003, giải Vô địch Kendo Thế giới lần thứ 12 được tổ chức tại Glasgow, Scotland. Những người tập Kendo đến từ 41 quốc gia và các vùng lãnh thổ khác nhau
==Lịch sử==
 
Khi nhìn lại lịch sử của Kendo, có nhiều mốc quan trọng mà chúng ta không thể bỏ qua.
 
Điểm đầu tiên là sự hình thành của [[kiếm Nhật]]. [[Kiếm Nhật]] có hình dạng như ngày nay được xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ thứ 11 (Giữa thời kỳ [[Heian]] (794-1185), nó có lưỡi sắc bén với sống hơi cong lên (được gọi là [[Shinogi]]). Nguyên bản của nó có lẽ được mô phỏng từ [[vũ khí]] của những người [[kỵ binh]] trong cuộc chiến tranh ở phía bắc [[Nhật Bản]] trong suốt thế kỷ thứ 9. Kể từ đó, [[kiếm Nhật]] được sử dụng rộng rãi và kỹ thuật [[rèn kiếm]] cũng được phát triển một cách nhanh chóng trong suốt giai đoạn đầu của thời đại các [[Samurai]] (Cuối thời kỳ [[Kamakura]] ở thế kỷ thứ 13).
 
Sau khi cuộc [[chiến tranh Ōnin|chiến tranh Onin]] xảy ra vào nửa cuối thời kỳ [[Muromachi]] (1392-1573), nước Nhật đã rơi vào tình trạng hỗn loạn suốt hơn 100 năm. Trong suốt giai đoạn này, rất nhiều [[võ đường]] dạy [[Kenjutsu]] đã được thành lập. Vào năm 1543, [[súng trường]] đã được mang vào [[Tanegashima]] (một hòn đảo nằm ở phía cực nam của [[Nhật Bản]]). [[Kiếm Nhật]] lúc đó vẫn được rèn theo phương pháp đúc [[Tatarafuki]] với bột sắt chất lượng cao thu được trên những bãi bồi ven sông. Tuy nhiên không lâu sau đó, một số lượng súng lớn cũng được sản xuất ra thành công nhờ sử dụng loại bột sắt này với cùng phương pháp đúc. Với kết quả này, những cuộc chiến với [[giáp trụ]] nặng dù chiếm ưu thế trước đó nhưng nay đã nhanh chóng chuyển sang những cuộc đối đầu tay đôi nhẹ hơn. Từ những kinh nghiệm chiến đấu thực tế như vậy đã dẫn đến sự phát triển và chuyên môn hoá cho việc [[rèn kiếm]] cũng như những kỹ thuật [[rèn kiếm]] bằng tay một cách tinh xảo và những kỹ thuật này vẫn được lưu truyền cho đến ngày nay thông qua các [[võ đường]], các lò khác nhau, chẳng hạn như phái '''Shikage-ryu''' và phái '''Itto-ryu.'''
 
[[Nhật Bản]] bước vào giai đoạn tương đối thanh bình bắt đầu từ giai đoạn đầu của thời kỳ [[Edo]] (1603-1867). Trong suốt giai đoạn này, kiếm thuật đã được chuyển biến từ những kỹ thuật giết người sang việc phát triển hoàn thiện con người thông qua tư tưởng ([[đạo]]), ví dụ như [[Katsunin-ken]] không chỉ bao hàm những lý thuyết về những đường kiếm mạnh mẽ mà nó còn bao hàm những tư tưởng về đời sống kỷ luật của các [[Samurai]]. Những tư tưởng này đã được biên soạn công phu, tỉ mỉ trong những cuốn sách nói về nghệ thuật chiến đấu ở giai đoạn đầu của thời kỳ Edo. Ví dụ như: cuốn [[Heiho Kadensho]] của [[Yagyu Munenori]]; cuốn [[Fudochi Shinmyoroku]] của [[Priest Takuan]] và được giải thích lại rõ ràng trong cuốn sách của [[Yagyu Munenori]] là “[[Ken to Zen]]” (Kiếm pháp và Phật giáo); hay như cuốn “[[Gorin-no-sho]]” của [[Miyamoto Musashi]]. Ngoài ra còn có rất nhiều cuốn sách khác về những học thuyết kiếm đạo được phổ biến trong suốt giai đoạn giữa và nửa cuối của thời kỳ Edo. Rất nhiều trong số đó đã trở nên kinh điển và có ảnh hưởng lớn đến những người tập Kendo ngày nay
 
Những cuốn sách này được phổ biến nhằm truyền đạt đến các [[Samurai]] sống mà không quan tâm đến cái chết. Các [[Samurai]] đã hàng ngày nghiên cứu những cuốn sách và được truyền đạt những tư tưởng này, sống một cuộc sống khổ hạnh, trao dồi tu dưỡng tư tưởng và dâng hiến bản thân mình cho cái hay, cái đẹp của [[võ đạo]], học để phân biệt giữa cái đẹp và cái xấu, học để trong trường hợp khẩn cấp sẵn sàng dâng hiến sinh mạng của mình cho gia tộc và chủ nhân của mình. Tinh thần [[Võ sĩ đạo|Bushido]] ([[võ sĩ đạo|võ sỹ đạo]]) được hình thành trong suốt giai đoạn này và được phát triển trong suốt 246 năm thanh bình của thời kỳ [[Gia tộc Tokugawa|Tokugawa]]. Thậm chí sau sự sụp đổ của chế độ phong kiến, tinh thần [[võ sĩ đạo|võ sỹ đạo]] đó vẫn tồn tại trong tư tưởng của [[người Nhật|người Nhật Bản]].
 
Khi giai đoạn hoà bình vẫn được tiếp tục, trong khi [[Kenjutsu]] phát triển thêm nhiều kỹ thuật đẹp mắt mới được đúc kết từ những kỹ thuật chiến đấu thực tế, [[Naganuma Shirozaemon-Kunisato]] của phái [[Jiki-shinkage]] đã thành lập và phát triển ra một kỹ thuật đánh kiếm mới. Trong suốt thời kỳ [[Shotoku]] (1711-1715) '''Naganuma''' đã phát triển ra '''Kendo-gu''' (các phương tiện bảo vệ) và sáng lập ra phương pháp huấn luyện sử dụng [[Shinai]] ('''kiếm tre'''). Đây chính là tiền thân của Kendo ngày nay. Sau đó, trong suốt thời kỳ [[Horeki (1751-1764)]], '''Nakanishi Chuzo-kotake''' của phái '''Itto''' bắt đầu phương pháp huấn luyện sử dụng Men bằng sắt (Men-mũ bảo vệ đầu) và Kendo-gu được làm bằng tre, phương pháp này đã nhanh chóng trở nên thông dụng trong các [[võ đường]] chỉ sau một thời gian ngắn. Trong thời kỳ [[Kansei]] (1789-1801), các cuộc thi đấu giữa các võ đường đã trở nên phổ biến và các [[Samurai]] thường đi ra các vùng bên ngoài để tìm kiếm những đối thủ mạnh hơn nhằm hoàn thiện kỹ năng của mình.
 
Trong nửa cuối của thời kỳ Edo (bắt đầu từ thế kỷ thứ 19), nhiều loại dụng cụ tập luyện mới đã được sáng tạo ra ví dụ như '''Yotsuwari Shinai''' (Kiếm tre được ghép lại từ bốn thanh tre). Cây '''Shinai''' mới này có độ co dãn tốt hơn, bền hơn và nó đã được dùng thay thế cho '''Fukuro Shinai''' (kiếm tre theo đúng nghĩa đen và có bao kiếm bên ngoài). Đồng thời, '''Do''' (Giáp che cơ thể) đã được gia cố thêm bằng da và được quét sơn bên ngoài. Trong thời kỳ này có 3 [[Dojo]] (võ đường) lớn được biết đến như là “3 võ đường lớn của thời kỳ Edo - Three Great Dojos of Edo”, đó là '''Genbukan''' được dẫn dắt bởi '''Chiba Shusaku''', '''Renpeikan''' được dẫn dắt bởi '''Saito Yakuro''' và '''Shigakkan''' được dẫn dắt bởi '''Momoi Shunzo'''. Chiba cố gắng hệ thống hoá các kỹ thuật tập luyện ([[Waza]]) của kiếm tre từ 68 kỹ thuật của [[Kenjutsu]], những điểm được cho là nổi bật nhất. Những kỹ thuật này như là '''Oikomi-men''' và '''Suriage-men''' và rất nhiều các kỹ thuật khác được đặt tên bởi Chiba vẫn đang được sử dụng cho đến ngày nay.
 
Sau cuộc [[cách mạng Meiji]] năm 1868, tầng lớp [[Samurai]] đã bị xoá bỏ và việc đeo kiếm đã bị cấm. Với kết quả này, rất nhiều các [[Samurai]] đã bị không có việc làm và [[Kenjutsu]] đã suy tàn một cách nhanh chóng. Sau đó, cuộc xung đột [[Seinan]] bắt đầu vào năm thứ 10 của thời kỳ [[Meiji (định hướng)|Meiji]] (1877), đó là sự kháng cự của các [[Samurai]] chống lại [[Chính phủ]] nhưng đã không thành công, tuy nhiên nó được xem như đã mang lại sự phục hồi của [[Kenjutsu]] ngay chính trong lòng lực lượng [[cảnh sát]] thủ đô [[Tōkyō|Tokyo]]. Vào năm thứ 28 của thời kỳ [[Meiji (định hướng)|Meiji]] [1829], tổ chức [[Dai-Nippon Butoku-Kai]] được thành lập với tư cách là một tổ chức quốc gia để đẩy mạnh sự phục hồi của [[Bujutsu]] trong đó có cả [[Kenjutsu]]. Trong khoảng thời gian 1899, [[Võ sĩ đạo|Bushido]], được coi như là những tài liệu về các suy nghĩ và triết lý của các [[Samurai]], đã được phổ biến và dịch sang tiếng Anh. Nó đã có sức thuyết phục và ảnh hưởng trên toàn thế giới.
 
Trong năm đầu tiên của thời kỳ [[Taisho]] [1912], tổ chức [[Dai-Nippon Teikoku Kendo Kata]] (sau đó được đổi tên thành [[Nippon Kendo Kata]]) được thành lập và sử dụng từ Kendo. Sự thành lập của Kendo Kata đã đem lại sự thống nhất rất nhiều võ đường, nhằm mang lại tồn tại và phát triển các kỹ thuật và tinh thần của kiếm đạo Nhật Bản, đồng thời để đưa ra những biện pháp sửa những lỗi sai do sử dụng tập luyện kiếm tre và chuẩn hoá những điểm đánh không đúng. Nó cũng nhấn mạnh rằng kiếm tre được thay thế cho kiếm thật trong tập luyện và cũng phải được đối xử như kiếm thật.
 
Sau [[chiến tranh thế giới thứ hai|chiến tranh thế giới thứ 2]], Kendo đã bị tạm dừng dưới sự chiếm đóng của quân đồng minh. Trong năm 1952, khi [[Liên đoàn Kendo Nhật Bản]] (All Japan Kendo Federation) được thành lập, Kendo mới sống lại và tiếp tục phát triển. Kendo ngày nay đóng vai trò quan trọng trong sự giáo dục ở trường học và rất nhiều người già, trẻ, gái, trai đều yêu thích, có hàng triệu người ở mọi lứa tuổi đang tham gia tập luyện Kendo đều đặn. Ngoài ra, Kendo cũng đang được yêu thích trên toàn thế giới, có ngày càng nhiều người tập Kendo tại các nước. [[Liên đoàn Kendo quốc tế]] ('''The International Kendo Federation – FIK''') được thành lập vào năm 1970 và giải Vô địch Kendo Thế giới được tổ chức 3 năm một lần và lần đầu tiên tại Nippon Budokan trong cùng năm đó. Vào tháng7 năm 2003, giải Vô địch Kendo Thế giới lần thứ 12 được tổ chức tại Glasgow, Scotland. Những người tập Kendo đến từ 41 quốc gia và các vùng lãnh thổ khác nhau
 
==Võ phục và dụng cụ tập luyện==
Người dùng vô danh