Khác biệt giữa các bản “Thành phố Hồ Chí Minh”

[[Tập tin:Saigon panoramique.jpg|nhỏ|trái|400px|[[Sông Sài Gòn]] đoạn qua trung tâm thành phố và [[bán đảo Thủ Thiêm]]]]
 
Địa chất Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm chủ yếu là hai tướng trầm tích [[Thế Pleistocen|Pleistocen]] và [[Thế Holocen|Holocen]] lộ ra trên bề mặt. Trầm tích Pleistocen chiếm hầu hết phần Bắc, Tây Bắc và Đông Bắc thành phố. Dưới tác động của các yếu tố tự nhiên và hoạt động của con người, trầm tích [[phù sa cổ]] hình thành nhóm đất đặc trưng riêng: [[đất xám]]. Với hơn 45 nghìn [[hecta]], tức khoảng 23,4% diện tích thành phố, đất xám ở Thành phố Hồ Chí Minh có ba loại: đất xám cao, đất xám có tầng loang lổ đỏ vàng và hiếm hơn là đất xám gley. Trầm tích Holocen ở Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều nguồn gốc: biển, vũng vịnh, sông biển, bãi bồi... hình thành nhiều loại đất khác nhau: nhóm đất phù sa biển với 15.100 ha, nhóm đất phèn với 40.800 ha và đất phèn mặn với 45.500 ha. Ngoài ra còn có một diện tích khoảng hơn 400 ha là "giồng" cát gần biển và đất feralite vàng nâu bị xói mòn trơ sỏi đá ở vùng đồi gò.<ref>[{{chú thích web|title=Ðịa chất - đất đai|url=http://www.hochiminhcity.gov.vn/home/left/gioi_thieu/gioi_thieu_chung/tong_quan/xa_hoi/dia_ly_thu_muc/dia_chat_dat_dai?left_menu=1|publisher=Website ÐịaThành chấtphố -Hồ đất đai]{{deadChí linkMinh|dateaccessdate=August 20102014-05-22|archiveurl=http://web.archive.org/web/20090611035741/http://www.hochiminhcity.gov.vn/home/left/gioi_thieu/gioi_thieu_chung/tong_quan/xa_hoi/dia_ly_thu_muc/dia_chat_dat_dai?left_menu=1|archivedate=2009-06-11}} trên trang của Thành phố.</ref>.
 
Về thủy văn, nằm ở vùng hạ lưu [[Sông Đồng Nai|hệ thống sông Ðồng Nai]] - [[Sông Sài Gòn|Sài Gòn]], Thành phố Hồ Chí Minh có mạng lưới sông ngòi kênh rạch rất đa dạng. [[Sông Đồng Nai|Sông Ðồng Nai]] Bắt nguồn từ [[cao nguyên Lâm Viên]], hợp lưu bởi nhiều sông khác, có lưu vực lớn, khoảng 45.000&nbsp;km². Với lưu lượng bình quân 20–500 m³/s, hàng năm cung cấp 15 tỷ m³ nước, sông Đồng Nai trở thành nguồn nước ngọt chính của thành phố. [[Sông Sài Gòn]] bắt nguồn từ vùng [[Hớn Quản]], chảy qua [[Thủ Dầu Một]] đến Thành phố Hồ Chí Minh, với chiều dài 200&nbsp;km và chảy dọc trên địa phận thành phố dài 80&nbsp;km. Sông Sài Gòn có lưu lượng trung bình vào khoảng 54 m³/s, bề rộng tại thành phố khoảng 225 m đến 370 m, độ sâu tới 20 m. Nhờ hệ thống kênh Rạch Chiếc, hai con sông Đồng Nai và Sài Gòn nối thông ở phần nội thành mở rộng. Một con sông nữa của Thành phố Hồ Chí Minh là [[sông Đồng Nai|sông Nhà Bè]], hình thành ở nơi hợp lưu hai sông Đồng Nai và Sài Gòn, chảy ra [[biển Đông]] bởi hai ngả chính [[Sông Soài Rạp|Soài Rạp]] và [[Sông Lòng Tàu|Gành Rái]]. Trong đó, ngả Gành Rái chính là đường thủy chính cho tàu ra vào bến [[cảng Sài Gòn]]. Ngoài các con sông chính, Thành phố Hồ Chí Minh còn có một hệ thống kênh rạch chằng chịt: Láng The, Bàu Nông, rạch Tra, Bến Cát, An Hạ, Tham Lương, Cầu Bông, [[Kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè|Nhiêu Lộc-Thị Nghè]], Bến Nghé, [[Kênh Tân Hóa - Lò Gốm|Lò Gốm]], Kênh Tẻ, [[Kênh Tàu Hũ|Tàu Hũ]], Kênh Ðôi...Hệ thống sông, kênh rạch giúp Thành phố Hồ Chí Minh trong việc tưới tiêu, nhưng do chịu ảnh hưởng dao động triều bán nhật của biển Ðông, [[thủy triều]] thâm nhập sâu đã gây nên những tác động xấu tới sản xuất nông nghiệp và hạn chế việc tiêu thoát nước ở khu vực nội thành.<ref name="nuoc">[{{chú thích web|title=Nguồn nước và thủy văn|url=http://www.hochiminhcity.gov.vn/home/left/gioi_thieu/gioi_thieu_chung/tong_quan/xa_hoi/dia_ly_thu_muc/nguon_nuoc_va_thuy_van?left_menu=1|publisher=Website NguồnThành nướcphố Hồ thủy văn]{{deadChí linkMinh|dateaccessdate=August 20102014-05-22|archiveurl=http://web.archive.org/web/20090411001456/http://www.hochiminhcity.gov.vn/home/left/gioi_thieu/gioi_thieu_chung/tong_quan/xa_hoi/dia_ly_thu_muc/nguon_nuoc_va_thuy_van?left_menu=1|archivedate=2009-04-11}} trên trang của Thành phố.</ref>.
 
Nhờ [[thế Pleistocen|trầm tích Pleistocen]], khu vực phía bắc Thành phố Hồ Chí Minh có được lượng nước ngầm khá phong phú. Nhưng về phía nam, trên trầm tích [[Thế Holocen|Holocen]], nước ngầm thường bị nhiễm phèn, nhiễm mặn. Khu vực nội thành cũ có lượng nước ngầm đáng kể, tuy chất lượng không thực sự tốt, vẫn được khai thác chủ yếu ở ba [[tầng ngậm nước|tầng]]: 0–20 m, 60–90 m và 170–200 m ([[Thế Miocen|tầng trầm tích Miocen]]). Tại [[Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh|Quận 12]], các huyện [[Hóc Môn]] và [[Củ Chi]], chất lượng nước tốt, trữ lượng dồi dào, thường được khai thác ở tầng 60–90 m, trở thành nguồn nước bổ sung quan trọng.<ref name="nuoc"/>
517

lần sửa đổi