Khác biệt giữa các bản “Đại Tỉnh thức”

clean up, replaced: → (28) using AWB
n (replaced: {{tham khảo}} → {{tham khảo|2}} using AWB)
(clean up, replaced: → (28) using AWB)
{{Kitô giáo}}
Thuật từ '''Đại Tỉnh thức''' được dùng để chỉ các cuộc phục hưng tôn giáo trong lịch sử [[Hoa Kỳ]] và [[Anh Quốc]], cũng được dùng để miêu tả các giai đoạn cách mạng về tư tưởng tôn giáo tại Hoa Kỳ. Phong trào này, với mục tiêu đánh thức sự sùng tín đã ngủ yên trong lòng tín hữu, lại kiến tạo cho mình ảnh hưởng đáng kể trong xã hội qua nỗ lực tuyên xưng các giá trị đạo đức, sự công chính và lòng nhân ái.
 
Theo sự phân loại được chấp nhận rộng rãi nhất, có cả thảy bốn cuộc đại tỉnh thức xảy ra trong lịch sử Hoa Kỳ:
*Đại Tỉnh thức lần thứ tư (thập niên 1960 - thập niên 1970)
==Đặc điểm==
[[Joseph Tracy]] - một [[mục sư]] và sử gia, người đã mang đến cho hiện tượng tôn giáo này thuật ngữ "Đại Tỉnh thức" (cũng là tựa đề một tác phẩm của ông được xuất bản vào năm [[1842]]) - cho rằng cuộc đại tỉnh thức lần thứ nhất là tiền thân của cuộc chiến dành độc lập của Hoa Kỳ. Cũng theo lập luận của Tracy, [[phong trào bãi nô]], một phần của cuộc đại tỉnh thức lần thứ hai và là một trong những nhân tố kiến tạo sự phân hóa trong nước Mỹ về vấn đề nô lệ, được xem như là một trong những yếu tố dẫn nước Mỹ vào cuộc [[Nội chiến Hoa Kỳ|Nội chiến]] với mục tiêu chính là giải phóng nô lệ.
 
Trong các cuộc Đại Tỉnh thức xuất hiện những hiện tượng nổi bật như bùng phát nhiều giáo phái, ngay cả một số tôn giáo mới, và các hệ thống tín ngưỡng mới xuất hiện cũng như các giáo hội truyền thống đều phát triển mạnh mẽ và tạo nhiều ảnh hưởng trong xã hội.
 
Mặc dù chịu ảnh hưởng từ những trào lưu thần học khởi phát ở [[châu Âu]], hiện tượng tôn giáo này chủ yếu diễn ra trong vòng nước Mỹ và thể hiện những đặc thù của đất nước này. Một phần có lẽ do Hoa Kỳ là vùng đất màu mỡ cho sự phát triển nhiều giáo phái, dù hầu hết đều chia sẻ những giá trị chung của cộng đồng [[Kháng Cách]]. Truyền thống Kháng Cách khuyến khích sự tự do bày tỏ các xác tín khác nhau. Sự thiếu vắng một tôn giáo chủ đạo hoặc một hệ thống quốc giáo là môi trường thuận lợi cho việc truyền bá những ý tưởng mới mà không cần nỗ lực, thường khi chậm chạp, cải cách từ bên trong.
 
==Đại Tỉnh thức lần thứ nhất==
Cuộc đại tỉnh thức cũng được giải thích là sự thể hiện sau cùng các lý tưởng tôn giáo; vì cớ các lý tưởng này mà các khu định cư vùng [[New England]] được thành lập. Lòng sùng tín đang trên đà suy giảm trong các thập niên trước cuộc đại tỉnh thức, một phần là do ảnh hưởng của phong trào [[Khai sáng]] (''Englightenment''), cùng với phản ứng tiêu cực của công chúng đối với vụ án xét xử các phù thuỷ tại Salem. Sau cuộc đại tỉnh thức, lòng sùng tín lại thoái trào, mặc dù lịch sử Hoa Kỳ luôn điểm xuyết bởi các cuộc phục hưng tôn giáo (đáng kể nhất là cuộc đại tỉnh thức thứ nhì). Sức mạnh dẫn dắt các khu định cư trong suốt 60 năm kế tiếp căn bản là thế tục, mặc dù Hoa Kỳ vẫn còn là một quốc gia sùng đạo sâu sắc (nhiều vùng trên nước Mỹ vẫn duy trì lòng sùng tín cho đến ngày nay).
===Ảnh hưởng===
Các sử gia vẫn tiếp tục tranh luận về ảnh hưởng chính trị của cuộc đại tỉnh thức đối với cuộc [[Cách mạng Mỹ]], diễn ra ngay sau đó. Heimert ([[1966]]) lập luận rằng trong thời kỳ trước khi xảy ra cuộc Cách mạng Mỹ, Thần học Calvin và Jonathan Edwards là nguồn cung ứng ý thức hệ chính trị cấp tiến theo khuynh hướng dân chủ xã hội; mặt khác, tôn giáo [[Phong trào Tin Lành|Tin Lành]] thể hiện và khuyến khích [[chủ nghĩa quốc gia]]. Thần học Calvin được vun trồng tại các khu định cư Mỹ lập nền cho hiện tượng thức tỉnh tâm linh, cùng lúc là tác nhân thúc đẩy cuộc Cách mạng Mỹ. Theo Heimert, ảnh hưởng chủ đạo của cuộc đại tỉnh thức là kiến tạo tinh thần quốc gia cho người Mỹ, đây là nhân tố quyết định dẫn đến cuộc cách mạng.
 
Cuộc Đại Tỉnh thức lần thứ nhất khởi phát từ những lời thuyết giáo mạnh mẽ và đầy sức thuyết phục tập chú vào việc quở trách [[tội lỗi]] và nhu cầu nhận lãnh ơn [[cứu rối|cứu chuộc]] qua hành động công khai xưng tội để tiếp nhận ân điển của Thiên Chúa, dẫn người nghe đến “trải nghiệm tiếp xúc với Thiên Chúa theo cách riêng của mỗi người”. Các diễn giả tra xem bản chất của điều người Mỹ thường xem là giao ước của Thiên Chúa dành cho dân tộc họ, và quở trách nếp sống suy đồi, chuộng vật chất, thích hưởng thụ tại các khu định cư đang trở nên giàu có tại Mỹ. Họ xem đó là ảnh hưởng đến từ [[Anh]], như thế, cần cắt đứt quan hệ với mẫu quốc để có thể tái cung hiến nước Mỹ cho Thiên Chúa.<ref>McLaughlin (1966), Goff (1998).</ref>
 
Cuộc Đại Tỉnh thức biến tôn giáo trở thành trải nghiệm cá nhân cho người bình thường bằng cách kiến tạo nhận thức sâu sắc về tội lỗi và ơn cứu chuộc, cùng lúc với sự tra xét nội tâm và tinh thần tận hiến cho những chuẩn mực mới trong đời sống tâm linh. Nhà sử học Sydney E. Ahlstrom nhận thấy yếu tố này trong các cuộc phục hưng tôn giáo xảy ra ở những nơi khác như [[Phong trào Sùng tín]] tại [[Đức]], cuộc Phục hưng Tin Lành và [[Phong trào Giám Lý]] tại Anh.<ref>Ahlstrom p. 263</ref>
 
==Đại Tỉnh thức lần thứ nhì==
Buổi truyền giảng trong lều bạt được tổ chức lần đầu tiên vào tháng 7 năm [[1800]] tại Nhà thờ Gasper River, tây nam [[Kentucky]]. Một buổi truyền giảng khác lớn hơn được tổ chức tại Cane Ridge, Kentucky vào tháng 8 năm [[1801]] với sự tham dự của từ 10 ngàn đến 25 ngàn người; cũng có mặt nhiều mục sư thuộc các giáo phái [[Giáo hội Trưởng Lão (Cơ Đốc)|Trưởng lão]], Baptist và Giám Lý. Buổi truyền giảng này đã giúp định hình các chương trình truyền giảng phục hưng có tổ chức, để trở nên hình mẫu cho sự phát triển của các giáo phái như Giám Lý hay Baptist. Nó cũng là công cụ giúp sản sinh các giáo phái thuộc phong trào Hồi cố như [[Disciples of Christ]] và [[Church of Christ]].
 
Cuộc phục hưng mau chóng quét qua khắp [[Kentucky]], [[Tennessee]] và miền nam [[Ohio]] cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các giáo phái Giám Lý và Baptist. Mỗi giáo phái có thế mạnh của mình để thu hoạch từ cuộc phục hưng. Giáo phái Giám Lý với cơ cấu tổ chức hiệu quả, dựa vào các truyền đạo khu vực (''circuit rider''), những người này tìm đến các vùng xa xôi, hẻo lánh để giảng đạo. Thường xuất thân từ giới bình dân, họ dễ dàng tìm được sự đồng cảm từ các gia đình sinh sống tại vùng biên cương.
 
Trong khi đó, giáo phái Baptist chọn lựa cấu trúc tổ chức mềm dẻo. Những người truyền đạo nông dân của họ, những người nhận lãnh "ơn gọi" từ [[Thiên Chúa]], chuyên cần nghiên cứu Kinh Thánh và đi ra thành lập nhà thờ; sau đó, họ được phong chức bởi giáo đoàn của họ. Các giáo đoàn này đào tạo nhiều mục sư và gởi họ đến các vùng xa hơn, sâu trong các hoang mạc để thành lập nhà thờ. Nhờ tính hiệu quả của phương pháp này, giáo phái Baptist chiếm vai trò chủ đạo trong đời sống tôn giáo tại những tiểu bang biên giới và hầu hết các tiểu bang miền Nam.
Các giáo hội Kháng Cách mở rộng hoạt động truyền giáo ở Hoa Kỳ và tại nhiều nước trên khắp thế giới. Số lượng các đại học do các giáo hội thành lập tăng trưởng nhanh cùng với chất lượng giáo dục. [[YMCA]] có mặt ở nhiều thành phố, cùng lúc với các nhóm thanh niên Cơ Đốc như Epworth League (Giám Lý), và Walther League ([[Giáo hội Luther|Lutheran]]).
===Ảnh hưởng===
Cuộc Đại Tỉnh thức lần thứ ba được xem là ảnh hưởng chủ đạo dẫn dắt nước Mỹ qua những ngày khó khăn khi phải gánh chịu hậu quả nặng nề của cuộc [[Đại Suy thoái]] và [[Đệ nhị thế chiến|chiến tranh thế giới lần thứ hai]]. Ý nghĩa của thuật từ “thức tỉnh” ngụ ý một xã hội mê ngủ hoặc trì trệ, thụ động và bị thế tục hóa. Như thế, “thức tỉnh” là thuật từ bắt nguồn từ những người Tin Lành<ref>Lambert, Frank. ''Inventing the "Great Awakening"'', Princeton University Press, 1999.</ref> và được sử dụng thường xuyên bởi cộng đồng này, kéo dài cho đến ngày nay như trong trường hợp của [[Tổng thống Hoa Kỳ|Tổng thống]] [[George W. Bush]].<ref>[http://www.washingtonpost.com/wp-dyn/content/article/2006/09/12/AR2006091201594.html "Bush Tells Group He Sees a 'Third Awakening'"] ''Washington Post,'' Sept. 12 2006.</ref>
==Đại Tỉnh thức lần thứ tư==
Dù vẫn còn bất đồng về việc liệu có nên áp dụng thuật từ “Đại Tỉnh thức” cho giai đoạn từ cuối [[thập niên 1960]] đến đầu [[thập niên 1970]] hay không, thời kỳ này chứng kiến nhiều sự thay đổi đáng kể trong lĩnh vực tôn giáo tại [[Hoa Kỳ]].<ref>Robert William Fogel (2000), ''The Fourth Great Awakening & the Future of Egalitarianism'' (University of Chicago Press, ISBN 0-226-25662-6)</ref>
Trong khi các giáo hội “chính lưu” thuộc cộng đồng Kháng Cách sút giảm đáng kể số lượng tín hữu và ảnh hưởng xã hội thì một số giáo phái truyền thống như [[Baptist Nam phương]] và ''Missouri Synod Lutheran'' phát triển mạnh mẽ số lượng thành viên, mở rộng ảnh hưởng trên khắp nước Mỹ, tham gia các cuộc tranh luận thần học, và trở nên các thế lực chính trị hùng mạnh. Cùng lúc, là sự lớn mạnh của chủ nghĩa thế tục, và các giáo hội phải đối đầu với các vấn đề như quyền của người đồng tính, quyền phá thai và phải nỗ lực bảo vệ học thuyết sáng tạo.<ref>William G. McLoughlin (1978), ''Revivals, Awakenings and Reform: An Essay on Religion and Social Change in America, 1607-1977''</ref><ref>Randall Balmer (2001), ''Religion in Twentieth Century America''</ref>
 
Thời kỳ này cũng chứng kiến sự phát triển của các nhà thờ độc lập có chủ trương liên phái, và các “trung tâm đức tin cộng đồng”, cùng lúc là sự trỗi dậy của hiện tượng đại giáo đoàn, và các tổ chức truyền giáo và công tác xã hội phi giáo phái. Phong trào Giê-xu được xem là một phần trong cuộc đại tỉnh thức lần thứ tư.
 
Cũng thuộc thời kỳ này, theo quan điểm của một số người, là cuộc [[Phong trào Ân tứ]] từ năm [[1961]] đến [[1982]]. Khởi nguồn từ [[Phong trào Ngũ Tuần]], tập chú vào trải nghiệm mà họ xem là những “ân tứ” của [[Chúa Thánh Linh]] như nói tiếng lạ, chữa bệnh bằng đức tin và nói tiên tri; các “ân tứ” này cũng được xem là dấu chứng của trải nghiệm “đầy dẫy Chúa Thánh Linh”. Dù khởi phát từ cộng đồng Kháng Cách, ảnh hưởng của phong trào này lan rộng trong [[Giáo hội Công giáo La Mã]] vào lúc các nhà lãnh đạo giáo hội tỏ thái độ rộng mở với chủ trương đại kết, bớt nhấn mạnh đến cấu trúc giáo hội, đồng thời quan tâm nhiều hơn đến vai trò của giáo dân trong giáo hội.<ref>Edith L Blumhofer and Randall Balmer (1993), ''Modern Christian Revivals''</ref>
===Đại Tỉnh thức lần thứ nhì===
* Abzug, Robert H. "Cosmos Crumbling: American Reform and the Religious Imagination" (1994) (ISBN 0-195-04568-8)
* Ahlstrom, Sydney. ''A Religious History of the American People'' (1972) (ISBN 0-385-11164-9)
* Birdsall Richard D. "The Second Great Awakening and the New England Social Order." ''Church History'' 39 (1970): 345-64.
* Bratt, James D. "Religious Anti-revivalism in Antebellum America." ''Journal of the Early Republic'' (2004) 24(1): 65-106. ISSN 0275-1275 Fulltext: in Ebsco. Examines oppositional literature of the antirevivalists, namely, the doubters and critics. The article includes an appendix of selected revivalist critiques.
* Butler Jon. ''Awash in a Sea of Faith: Christianizing the American People.'' 1990.
* Carwardine, Richard J. ''Evangelicals and Politics in Antebellum America.'' Yale University Press, 1993.
* Carwardine, Richard J. "The Second Great Awakening in the Urban Centers: An Examination of Methodism and the 'New Measures,'" ''Journal of American History'' 59 (1972): 327-340. online in JSTOR
* Joseph A. Conforti; '' Jonathan Edwards, Religious Tradition and American Culture'' University of North Carolina Press. 1995.
* Cross, Whitney, R. ''The Burned-Over District: The Social and Intellectual History of Enthusiastic Religion in Western New York, 1800–1850'' 1950.
* Foster, Charles I. ''An Errand of Mercy: The Evangelical United Front, 1790–1837'' University of North Carolina Press, 1960.
* Clifford S. Griffin. "Religious Benevolence as Social Control, 1815-1860," ''The Mississippi Valley Historical Review,'' Vol. 44, No. 3. (Dec., 1957), pp.&nbsp;423–444. [http://links.jstor.org/sici?sici=0161-391X%28195712%2944%3A3%3C423%3ARBASC1%3E2.0.CO%3B2-Y in JSTOR]
* Hambrick-Stowe, Charles. ''Charles G. Finney and the Spirit of American Evangelicalism.'' Wm B. Eerdmans, 1996.
* Hankins, Barry. ''The Second Great Awakening and the Transcendentalists.'' Greenwood, 2004. 200 pp.
* Hatch Nathan O. ''The Democratization of American Christianity'' 1989.
* Charles A. Johnson, "The Frontier Camp Meeting: Contemporary and Historical Appraisals, 1805-1840" ''The Mississippi Valley Historical Review,'' Vol. 37, No. 1. (Jun., 1950), pp.&nbsp;91–110. [http://links.jstor.org/sici?sici=0161-391X%28195006%2937%3A1%3C91%3ATFCMCA%3E2.0.CO%3B2-2 in JSTOR]
* Long, Kimberly Bracken. "The Communion Sermons of James Mcgready: Sacramental Theology and Scots-Irish Piety on the Kentucky Frontier." ''Journal of Presbyterian History'' 2002 80(1): 3-16. Issn: 0022-3883
 
* McLoughlin William G. ''Modern Revivalism'' 1959.
* McLoughlin William G. ''Revivals, Awakenings, and Reform: An Essay on Religion and Social Change in America, 1607-1977'' 1978.
* Noll; Mark A. ed. ''God and Mammon: Protestants, Money, and the Market, 1790-1860'' Oxford University Press. 2002.
* Walter Brownlow Posey, ''The Baptist Church in the Lower Mississippi Valley, 1776-1845'' University at Kentucky Press, 1957
* Roth Randolph A. ''The Democratic Dilemma: Religion, Reform, and the Social Order in the Connecticut River Valley of Vermont, 1791-1850.'' 1987
* Hutchison William R. ''Errand to the World: American Protestant Thought and Foreign Missions.'' University of Chicago Press, 1987.
* Richard Jensen. ''The Winning of the Midwest: Social and Political Conflict, 1888-1896'' (1971)
* Kathryn Teresa Long; ''The Revival of 1857-58: Interpreting an American Religious Awakening'' Oxford University Press, 1998
* William G McLoughlin. ''Revivals Awakenings and Reform'' 1980
* Marsden, George M. ''Fundamentalism and American Culture: The Shaping of Twentieth-Century Evangelicalism, 1870-1925'' Oxford University Press, 1980.
* McLoughlin, William G. ''Modern Revivalism: Charles Grandison Finney to Billy Graham'' 1959.
* McLoughlin, William G. ''Revivals, Awakenings, and Reform: An Essay on Religion and Social Change in America, 1607-1977.'' University of Chicago Press, 1978.
* McLoughlin, William G. ed. ''The American Evangelicals, 1800-1900: An Anthology'' 1976.