Khác biệt giữa các bản “Đường Văn Tông”

không có tóm lược sửa đổi
'''Đường Văn Tông''' ([[chữ Hán]]: 唐文宗, [[bính âm]]: Tang Wenzong, [[20 tháng 11]] năm [[809]] - [[10 tháng 2]] năm [[840]]<ref>[https://en.wikipedia.org/wiki/Academia_Sinica Academia Sinica]</ref>), thụy hiệu đầy đủ là '''Nguyên Thánh Chiếu Hiến Hiếu hoàng đế''' (元圣昭献孝皇帝), tên thật là '''Lý Hàm''' (李涵) hay '''Lý Ngang''' (李昂), là vị [[hoàng đế]] thứ 15 hay 17<ref>Trước đó hai vị vua Đường Trung Tông và Đường Duệ Tông đều ở ngôi hai lần không liên tục</ref> của triều đại [[nhà Đường]] trong [[lịch sử Trung Quốc]].
 
Lý Hàm là con trai thứ hai của [[Đường Mục Tông]] Lý Hằng, mẫu thân là Tiêu thị. Ban đầu ông được phong tước vị Giang vương. Sau cái chết của anh trai là [[Đường Kính Tông]] Lý Đam (827), Lý Hàm được bọn hoạn quan [[Vương Thủ Trừng]] ủng hộ lên ngôi, cải tên là Lý Ngang. Trong thời gian ở ngôi, nạn hoạn quan lộng quyền - vốn manh nha từ thời [[Đường Đại Tông|Đại Tông]], [[Đường Đức Tông|Đức Tông]] đã ngày càng khó kiềm chế. Văn Tông mặt dù rất cố gắng để hạn chế quyền lực của [[hoạn quan]] nhưng cuối cùng thất bại. Cũng trong những năm này, phiên trấn các nơi cũng liên tiếp nổi dậy. Sau chính biến Cam Lộ (835) ông hầu như đã bị [[hoạn quan]] kiểm soát và từ đó thì sống trong tâm trạng u uất và tuyệt vọng cho đến khi qua đời năm [[841]], có thuyết cho rằng Văn Tông bị hoạn quan sát hại.
 
== Trước khi lên ngôi ==
== Làm hoàng thượng ==
=== Sơ kì Thái Hòa (827 - 829) ===
{{Bài chính|Ngưu Lý đảng tranh}}
 
Ngày [[16 tháng 1]] (Mậu Thân) tôn mẹ là Tiêu thị làm hoàng thái hậu, Kính Tông mẫu Vương thị là Bảo Lịch thái hậu. Lúc đó, thái hoàng thái hậu Quách thị (bà của Văn Tông) được bố trí ở cung Hưng Khánh, Vương thái hậu ở Điện Nghĩa An, Tiêu thái hậu sống ở đại nội. Văn Tông vốn tính hiếu thuận, phụng sự ba cung đều như nhau. Mỗi khi các nơi tiến công kì trân dị vật thì trước đưa đến tông miếu, tiếp đó dâng đến ba cung còn dư thừa mới để tự mình chi dùng<ref name=ZZTJ243 />. Không lâu sau, ông phong cho Hàn Lâm học sĩ [[Vi Xử Hậu]] làm Trung thư thị lang, Đồng bình chương sự (tể tướng).
Văn Tông lại thấy rằng qua hai triều Mục Tông, Kính Tông, do sự xa xỉ của các hoàng đế khiến quốc khố cạn kiệt, vì thế ngay khi lên ngôi đã chủ trương tiết kiệm và tỏ ra cần mẫn trong việc xử lí công việc triều chính. Ông cho phép những cung nữ nào chưa được triệu hạnh có thể về quê với gia đình, tổng cộng được khoảng 3000 người. Thấy tân chủ mới lên ngôi đã làm những việc thuận lòng người, trong ngoài náo nức đón chờ một thời đại thái bình mới. Tuy nhiên Văn Tông mặc dù bên ngoài khuyến khích việc triều thần can gián, nhưng bản chất lại là con người thiếu quyết đoán. Mỗi khi cùng các tể tướng bàn định việc gì, cũng thường hay thay đổi ý kiến. Như tháng 4 ÂL năm 827, [[Vi Xử Hậu]] bàn luận công việc với Văn Tông ở Diên Anh Cực, nhân bất đồng ý kiến đã xin từ chức, Văn Tông không chấp nhận, cố sức giữ lại.
 
Tết Âm lịch năm Đinh Mùi (827), Văn Tông cải nguyên là Thái Hòa. Trong những năm này, nạn phiên trấn tiếp tục bùng phát mạnh mẽ. Những năm cuối đời Kính Tông, Tiết độ sứ Hoành Hải<ref>Hà Bắc, Trung Quốc hiện nay</ref> [[Lý Toàn Lược]] hoăng, con là phó sứ [[Lý Đồng Tiệp]] tự ý nắm quyền ở Hoành Hải mà không có sự đồng ý của triều đình, triều đình cũng làm ngơ không hỏi đến. Sau khi Văn Tông lên ngôi, Đồng Tiệp sai hai em là Đồng Chí, Đồng Tốn đến xin nhận mệnh lệnh của nhà Đường, mong được Văn Tông công nhận. Cũng năm đó, Tiết độ sứ Trung Vũ [[Vương Phái]] hoăng, Văn Tông phong Thái bộc khanh Cao Vũ lên thay làm tiết độ sứ. Đối với trấn Hoành Hải, Văn Tông phong cho [[Ô Trọng Dận]] thay Lý Đồng Tiệp đảm nhận chức Tiết độ sứ, dời Lý Đồng Tiệp làm Duyện Hải<ref>Trụ sở thuộc Tế Ninh, Sơn Đông, Trung Quốc hiện nay</ref> tiết độ sứ. Lý Đồng Tiệp lấy cớ tướng sĩ bức ép mà kháng lại triều mệnh, tự chiếm cứ đất Thương. Triều đình bèn quyết định thảo phạt Đồng Tiệp, có chiếu tước bỏ quan chức và cử các tiết độ sứ các vùng xung quanh là [[Ô Trọng Dận]], [[Vương Trí Hưng]], [[Sử Hiến Thành]], [[Khang Chí Mục]], [[Lý Thính]], [[Trương Bá]] ... thảo phạt Lý Đồng Tiệp, nhưng không giành thắng lợi ngay được<ref name=ZZTJ243 /> mà Lý Đồng Tiệp lại được Tiết độ sứ Thành Đức<ref>Trụ sở nay thuộc Thạch Gia Trang, Hà Bắc, Trung Quốc</ref> là [[Vương Đình Thấu]]. Văn Tông lại điều quân thảo phạt luôn cả trấn Thành Đức. Cuối năm đó Ô Trọng Dận hoăng, triều đình phong hoàng thân là Bảo Nghĩa tiết độ sứ Lý Hựu đến đảm nhiệm trấn Hoành Hải. Về sau quân triều đình do hoàng thân [[Lý Hựu]] chỉ huy đánh bại, Lý Đồng Tiệp đầu hàng rồi bị giết. Vương Đình Thấu sợ hãi, bèn dâng Cảnh châu để cầu hòa với triều đình.
Tết Âm lịch năm Đinh Mùi (827), Văn Tông cải nguyên là Thái Hòa. Đầu năm [[828]], có chiếu phong [[Vương Trí Hưng]] lên đảm nhiệm chức tể tướng cùng Vi Xử Hậu
 
Mùa hạ năm [[828]], con trưởng của Kính Tông là Tấn vương [[Lý Phổ]] hoăng, thọ 4 tuổi. Văn Tông ban đầu có ý lập Lý Phổ làm thái tử, nghe tin Phổ đã chết thì thương xót, truy tặng là Điệu Hoài thái tử<ref>[[Tân Đường thư]], quyển 82</ref>. Đầu năm [[829]], tể tướng [[Vi Xử Hậu]] cũng mất<ref name=ZZTJ243 />, Hàn lâm học sĩ Lộ Tùy lên thay đảm nhận tướng vị. Sau khi triều đình diệt Lý Đồng Tiệp, Tiết độ sứ Ngụy Bác<ref>Trụ sở thuộc Hàm Đan, Hà Bắc, Trung Quốc hiện nay</ref> là [[Sử Hiến Thành]] lo sợ mình sẽ là mục tiêu tiếp theo của quân triều đình, nên thỉnh cầu vào triều và xin quy phục. Văn Tông hạ lệnh dời [[Sử Hiến Thành]] đến làm Tiết độ sứ Hà Trung<ref>Trụ sở thuộc Vận Thành, Sơn Tây, Trung Quốc hiện nay</ref> và trấn Ngụy Bác được giao cho Lý Thính, ngoài ra còn cắt ba châu Tương, Vệ, Thiền giao cho phó sứ Ngụy Bác cũ là [[Sử Hiếu Chương]]<ref name=ZZTJ244>''[[Tư trị thông giám]]'', [[:zh:s:資治通鑑/卷244|quyển 244]].</ref>. Nhưng trước khi [[Sử Hiến Thành]] rời trấn thì binh sĩ Ngụy Bác nổi dậy giết chết ông ta rồi đưa [[Hà Tiến Thao]] làm Ngụy Bác lưu hậu. Tiến Thao lại đưa quân tấn công và đánh bại Lý Thính. Triều đình vừa trải qua chiến dịch ở Hoành Hải nên không muốn tiếp tục chiến tranh, đành công nhận Hà Tiến Thao là Tiết độ sứ và trao lại ba châu Tương, Vệ, Thiền cho Tiến Thao<ref name=ZZTJ244 />.
 
Cuối năm đó, Lý Tông Mẫn được phong làm tể tướng. Ít lâu sau, Lý Tông Mẫn oán ghét đại thần [[Lý Đức Dụ]] nên đuổi Đức Dụ ra trấn Nghĩa Thành. Quân Nam Chiếu tấn công vào địa giới Tây Xuyên<ref>Trụ sở thuộc Thành Đô, Tứ Xuyên, Trung Quốc hiện nay</ref>, tiết độ sứ [[Đỗ Nguyên Dĩnh]] tấu lên triều đình và đưa đại quân chống lại, nhưng thất bại. Quân Nam Chiếu tiến thẳng vào Thành Đô và sắp chiếm được rồi cử sứ đến triều đình xin trị tội Đỗ Nguyên Dĩnh. Văn Tông nghe tin, bèn lấy Tiết độ sứ Đông Xuyên [[Quách Chiêu]] kiêm luôn cả Tây Xuyên, biếm chức Nguyên Dĩnh để điều đình. Quân Nam Chiếu chấp nhận hòa ước, nhưng cũng bắt giữ nhiều phụ nữ, bách công và vàng bạc châu báu rồi mới rút về nước<ref name=ZZTJ244 />.
 
=== Trung và hậu kì Thái Hòa (830 - 835) ===
{{Bài chính|Ngưu Lý đảng tranh|Sự biến Cam Lộ}}
=== Thời kì Khai Thành (836 - 840) ===
=== Qua đời ===
*Khai Thành (開成 Kāi chéng) 836-840
 
== Gia đìnhquyến ==
===Cha mẹ===
* Cha: [[Đường Mục Tông]] Lý Hằng
* Mẹ: Trinh Hiến hoàng hậu Tiêu thị
=== *Hậu phi ===
** Vương Đức phi
** Dương Hiền phi
===* Con cái ===
**Con trai
==== Trai ====
# Lỗ vương → Hoàng thái tử → Trang Khác thái tử [[Lý Vĩnh]], con của Vương Đức phi.
# Tương vương [[Lý Tông Kiệm]]
**Con gái: Đường Văn Tông có 4 con gái<ref>[http://guoxue.baidu.com/page/d0c2ccc6cae9/95.html Tân Đường thư: Chư đế công chúa liệt truyện]</ref>:
==== Gái ====
Đường Văn Tông có 4 con gái<ref>[http://guoxue.baidu.com/page/d0c2ccc6cae9/95.html Tân Đường thư: Chư đế công chúa liệt truyện]</ref>:
# [[Công chúa Hưng Đường]]
# [[Công chúa Tây Bình]]