Mở trình đơn chính

Các thay đổi

n
clean up, General fixes using AWB
 
== Lịch sử ==
Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ thành lập ngày [[24 tháng 4]] năm [[1800]] bởi một sắc lệnh của [[Tổng thống Hoa Kỳ|Tổng thống]] [[John Adams]]. Sắc lệnh ''Act of Congress'' quyết định dời thủ đô từ [[Philadelphia]] về [[Washington, D.C.|Washington, D. C.]]. Một điều khoản trong sắc lệnh dành khoản tiền 5.000 [[Đô la Mỹ|USD]] “để"để mua các đầu sách cần thiết cho Quốc hội…, và trang bị nơi chứa sách…”sách…" Đặt hàng từ [[Luân Đôn]], 740 cuốn sách và 30 bản đồ được lưu trữ tại thủ đô mới của nước Mỹ.<ref name="loc history">{{chú thích web|title=Jefferson's Legacy: A Brief History of the Library of Congress|publisher=Library of Congress|url=http://www.loc.gov/loc/legacy/loc.html|date=[[2006-03-06]]|accessdate=2008-01-14}}</ref> Mặc dù số đầu sách không nhiều, tất cả đều hợp pháp, phản ánh vị trí của Quốc hội là thiết chế làm luật.
 
[[Thomas Jefferson]] thủ giữ vai trò quan trọng giai đoạn thành lập thư viện. Ngày [[26 tháng 1]] năm [[1802]], ông ký ban hành đạo luật đầu tiên về thiết lập cơ cấu Thư viện Quốc hội, qui định Tổng thống bổ nhiệm chức vụ Thủ thư Quốc hội và thành lập một Ủy ban Lưỡng viện về Thư viện<ref>Ủy ban có 10 thành viên: năm Thượng Nghị sĩ và năm Dân biểu. Xem [[:en:Joint Committee on the Library|Joint Committee on the Library]]</ref> nhằm giám sát và thiết lập nội quy cho thư viện, cũng như dành cho tổng thống và phó tổng thống quyền mượn sách.<ref name="loc history"/> Tháng 8 năm [[1814]], Thư viện Quốc hội – lúc ấy chỉ là một thư viện nhỏ có 3.000 đầu sách - bị tàn phá hoàn toàn khi binh sĩ Anh xâm chiếm và đốt phá [[Đồi Capitol]].<ref name="loc history"/> Trong vòng một tháng, cựu Tổng thống Jefferson hiến tặng thư viện riêng của ông để thế chỗ thư viện cũ.<ref>Thomas Jefferson's personal library at Library Thing, based on scholarship http://www.librarything.com/catalog.php?view=ThomasJefferson</ref><ref>Library Thing Profile Page for Thomas Jefferson's library, summarizing contents and indicating sources http://www.librarything.com/profile/ThomasJefferson</ref> Trước đó, Jefferson đã dành 50 năm để thu thập cho một bộ sưu tập sách đa dạng trong thể loại, trong đó có sách ngoại ngữ, và nhiều tuyển tập về [[triết học]], [[khoa học]], [[văn chương]], và sách dạy nấu ăn. Tháng 1 năm [[1815]], Quốc hội tiếp nhận sự hiến tặng của Jefferson và trả 23.950 USD cho 6.487 cuốn sách của ông.<ref name="loc history"/>
=== Giai đoạn hậu cải tổ (1897 – 1939) ===
[[Tập tin:LibraryCongressWashDC.jpg|nhỏ|250px|trái|Tòa nhà chính của Thư viện Quốc hội vào đầu thế kỉ 20]]
Khởi từ cuộc cải tổ năm 1897, Thư viện Quốc hội bắt đầu phát triển mạnh. Người kế nhiệm Spofford, John Russell Young, dù ở cương vị này chỉ có hai năm, đã kiểm tra toàn diện bộ máy hành chính của Thư viện, sử dụng mối quan hệ với một nhân vật từng là nhà ngoại giao để thu thập tài liệu từ trên khắp thế giới, cũng như thành lập chương trình trợ giúp ban đầu cho người mù và người khuyết tật.<ref name="loc history"/> Herbert Putnam, người kế nhiệm Young, đảm nhiệm chức vụ này trong suốt 40 năm ([[1899]]-[[1939]]), nhậm chức chỉ hai năm trước khi Thư viện Quốc hội trở thành thư viện đầu tiên ở Hoa Kỳ chạm mốc lưu trữ 1 triệu đầu sách.<ref name="loc history"/> Putnam tập chú vào nỗ lực cho phép công chúng và những thư viện khác tiếp cận các dịch vụ của thư viện. Ông cũng thiết lập dịch vụ cho mượn sách liên thư viện, biến Thư viện thành một định chế được mọi người nhắc đến như là “thư"thư viện tối hậu”hậu".<ref name="interlibrary loan">{{chú thích web| title = Interlibrary Loan (Collections Access, Management and Loan Division, Library of Congress| url=http://www.loc.gov/rr/loan/| date=2007-10-25| publisher=Library of Congress website| accessdate = 2007-12-04 }}</ref> Putnam cũng mở cửa Thư viện cho “những"những nhà điều tra khoa học và các cá nhân đủ phẩm chất”chất", và ấn hành các nguồn tư liệu phục vụ giới học thuật.<ref name="loc history"/>
 
Nhiệm kỳ của Putnam chứng kiến sự đa dạng trong khả năng thu thập tư liệu của Thư viện. Năm [[1903]], ông thuyết phục Tổng thống [[Theodore Roosevelt]] ký sắc lệnh chuyển các văn kiện của các nhà lập quốc từ [[Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ|Bộ Ngoại giao]] cho Thư viện. Putnam mở rộng phạm vi thu thập tư liệu ở nước ngoài, trong đó có vụ mua thư viện 4.000 đầu sách của [[Ấn Độ]] trong năm [[1904]], thư viện Nga 8.000 đầu sách của G. V. Yudin trong năm 1906, năm 1908 là bộ sưu tập các bản nhạc kịch cổ của Schatz, và đầu [[thập niên 1930]] là bộ sưu tập vương triều [[Nga]] trong đó có 2.600 đầu sách về các chủ đề khác nhau từ thư viện gia đình [[Romanov]]. Cũng có những bộ sưu tập các tác phẩm [[tiếng Hebrew]], [[Tiếng Trung Quốc|Hoa]], và [[Tiếng Nhật|Nhật]].<ref name="loc history"/> Quốc hội từng chủ động tìm kiếm tài liệu cho Thư viện như trong trường hợp Nghị sĩ Ross Collins từ [[Mississippi]] với đề án chi 1,5 triệu [[Đô la Mỹ|USD]] để mua bộ sưu tập sách cổ của Otto Vollbehr, trong đó có các ấn bản trên giấy da [[Kinh Thánh Gutenberg]].<ref name="loc history"/>
=== Lịch sử đương đại (1939 -) ===
[[Tập tin:LOC 07130008.jpg|270px|nhỏ|Tòa nhà Jefferson, Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ]]
Năm [[1939]], Tổng thống Franklin D. Roosevelt bổ nhiệm Archibald MacLeish thay thế Putnam đã đến tuổi về hưu. Đảm nhiệm chức trách thủ thư từ năm 1939 đến [[1944]], giai đoạn đỉnh điểm của [[Chiến tranh thế giới thứ hai|Đệ Nhị Thế chiến]], MacLeish được xem là thủ thư nổi tiếng nhất trong lịch sử Thư viện Quốc hội. MacLeish đổi tên phòng đọc phía Nam trong tòa nhà Adams thành Phòng Thomas Jefferson và mời họa sĩ Ezra Winter vẽ bốn bức bích họa tại đây. Trong phòng đọc chính thuộc tòa nhà Jefferson, ông cho thiết kế “góc"góc dân chủ”chủ", trưng bày các văn kiện quan trọng như [[Bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ|Bản Tuyên ngôn Độc lập]], [[Hiến pháp Hoa Kỳ|Hiến pháp]], và các văn kiện liên bang.<ref name="loc history"/> Thư viện đã hoạt động tích cực trong thời kỳ chiến tranh như bảo toàn Bản Tuyên ngôn Độc lập và Hiến pháp Hoa Kỳ tại Fort Knox, và nghiên cứu dữ liệu thời tiết trên dãy [[Himalaya]] cho các phi công.<ref name="loc history"/> Năm [[1944]], MacLeish từ nhiệm để nhận chức Phụ tá Bộ trưởng Ngoại giao, Tổng thống [[Harry S. Truman|Harry Truman]] bổ nhiệm Luther H. Evans thay thế. Evans, phục vụ đến năm [[1953]], không chỉ phát triển khả năng thu thập tư liệu, các dịch vụ thư mục và phân loại sách đến mức tối đa cho phép, mà còn khai mở các sứ mạng đặc biệt cho Thư viện: Tại [[San Francisco]], thư viện đã hỗ trợ các đoàn đại biểu tham dự hội nghị thành lập [[Liên Hiệp Quốc]], tại châu Âu thu thập các ấn phẩm [[châu Âu]] cho Thư viện Quốc hội và các thư viện khác tại Hoa Kỳ, cũng như hỗ trợ việc thành lập [[Thư viện Quốc hội Nhật Bản]].<ref name="loc history"/>
Năm [[1953]], L. Quincy Mumford kế nhiệm Evans. Nhiệm kỳ của Mumford, kéo dài đến năm 1974, chứng kiến việc khởi công xây dựng tòa nhà James Madison, tòa nhà thứ ba của Thư viện. Đây cũng là giai đoạn gia tăng các khoản chi tiêu dành cho giáo dục, nhờ đó Thư viện có thể thành lập các trung tâm thu thập tài liệu ở nước ngoài như tại [[Cairo]] và [[New Delhi]]. Năm 1962, theo yêu cầu của chủ tịch Ủy ban Lưỡng viện về Thư viện, Douglas Bryant thuộc [[Thư viện Đại học Harvard]] đệ trình đề án cải tổ, đề nghị mở rộng thư viện thành thư viện quốc gia và bớt chú trọng vào chức năng phục vụ Quốc hội. Bryant cũng đề nghị đổi tên Thư viện khiến Mumford gọi nó là “sự"sự xúc phạm nặng nề đến truyền thống."<ref name="loc history"/> Cuộc tranh luận kéo dài cho đến khi một đạo luật được thông qua xác định nhiệm vụ của Thư viện là tập chú nhiều hơn vào công cuộc khảo cứu hỗ trợ cho Quốc hội và các ủy ban của Quốc hội, và đổi tên Vụ Tham khảo Lập pháp thành [[Vụ Khảo cứu Quốc hội (Hoa Kỳ)|Vụ Khảo cứu Quốc hội]].<ref name="loc history"/>
 
Daniel J. Boorstin được Tổng thống [[Gerald Ford]] bổ nhiệm làm thủ thư năm [[1974]] khi Mumford về hưu. Ngân quỹ Thư viện tăng từ 116 triệu USD năm [[1975]] lên đến 250 triệu USD năm [[1987]], Boorstin tích cực tăng cường quan hệ với các học giả, tác giả, nhà xuất bản, các nhà lãnh đạo văn hóa, và cộng đồng doanh nghiệp. Sự năng nổ cũng như những hoạt động đa dạng của ông đã làm thay đổi vị trí của Thư viện nhiều đến nỗi khi ông về hưu trong năm [[1987]], tờ [[The New York Times|New York Times]] đã đưa ra nhận xét, có lẽ Thư viện Quốc hội là định chế “hàng"hàng đầu trong giới trí thức trên toàn quốc."<ref name="loc history"/> Năm [[1987]], bởi sự bổ nhiệm của [[Ronald Reagan]], James H. Billington trở thành thủ thư thứ 13 của Thư viện Quốc hội. Năm [[1991]], Billington bắt đầu sử dụng các thành tựu kỹ thuật mới và [[Internet]] để nối kết Thư viện với các định chế giáo dục trên khắp nước. Sự kết thúc [[Chiến tranh Lạnh|Chiến tranh lạnh]] cũng giúp Thư viện phát triển quan hệ với các nước [[Đông Âu]], và giúp thành lập các thư viện quốc hội tại những quốc gia này.<ref name="loc history"/> Cuối tháng 11 năm 2005, Thư viện công bố đề án thành lập [[Thư viện Số Thế giới]], sử dụng kỹ thuật số lưu trữ sách và các tư liệu khác từ tất cả nền văn hóa trên khắp thế giới.
 
== Địa Điểm ==
Một chức năng khác của Thư viện là đăng ký và lưu trữ bản quyền, và được xem như là kho dữ liệu cho Cục Bản quyền Hoa Kỳ. Có đăng ký bản quyền hay không, thì tất cả nhà xuất bản đều được yêu cầu nộp cho Thư viện hai bản sao các tác phẩm xuất bản của họ - yêu cầu này gọi là mandatory deposit.<ref>{{chú thích web | last = | first = | authorlink = | coauthors = | year = | url = http://www.copyright.gov/help/faq/mandatory_deposit.html | title = Mandatory Deposit | format = | work = | publisher = Copyright.gov | accessdate = 2006-08-08}}</ref> Nếu không xuất bản thì chỉ cần nộp môt bản sao. Mỗi ngày có gần 22 000 ấn bản ở Hoa Kỳ đệ nộp cho Thư viện. Không như nhiều người vẫn nghĩ, Thư viện không lưu trữ tất cả văn kiện này, nhưng mỗi ngày chỉ có khoảng 10 000 đơn vị được giữ lại. Sau khi chọn lọc, nhiều ấn phẩm được dùng để trao đổi với các thư viện trên khắp thế giới, phân phối cho các cơ quan của chính phủ liên bang, các trường học, cộng đồng, hoặc các tổ chức trong nước.<ref>{{chú thích web | last = | first = | authorlink = | coauthors = | year = | url = http://www.loc.gov/about/facts.html | title = Fascinating Facts | format = | work = | publisher = Library of Congress | accessdate = 2006-08-08}}</ref> Cũng giống các thư viện khác, Thư viện Quốc hội lưu trữ tất cả tài liệu tiếng Anh được xem là có giá trị.
 
Gần đây, [[Sách Kỷ lục Thế giới Guinness]] công nhận Thư viện Quốc hội là “thư"thư viện lớn nhất thế giới”giới",<ref>{{chú thích web | year = | url = http://www.guinnessworldrecords.com/content_pages/record.asp?recordid=49928 | title = Largest Library | format = | work = | publisher = Guinness Book of World Records | accessdate = 2006-08-08}}</ref> hiển nhiên là dựa trên diện tích kệ sách. Thư viện cho biết tài liệu lưu trữ của họ lấp đầy các kệ sách nếu xếp chúng nối đuôi nhau dài đến 530 miles (850&nbsp;km),<ref name="about">{{chú thích web | last = | first = | authorlink = | coauthors = | year = | url = http://www.loc.gov/about/ | title = About the Library | format = | work = | publisher = Library of Congress | accessdate = 2006-08-08}}</ref> con số này của Thư viện Anh Quốc là 388 miles (625&nbsp;km).<ref name="aboutbrit">{{chú thích web | last = | first = | authorlink = | coauthors = | year = | url = http://www.bl.uk/about/didyou.html | title = Did You Know? | format = | work = | publisher = British Library | accessdate = 2006-08-08}}</ref> Hiện Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ có 130 triệu đơn vị lưu trữ với 29 triệu cuốn sách, trong khi [[Thư viện Anh|Thư viện Anh Quốc]] có xấp xỉ 150 triệu đơn vị lưu trữ với 25 triệu cuốn sách.<ref name="about"/><ref name="aboutbrit"/>
 
Thư viện đã số hóa hàng triệu văn kiện, gồm có hàng chục terabyte trên [http://memory.loc.gov American Memory Website]. Đây là nguồn tư liệu hình ảnh, [[audio]], [[video]] và nội dung các trang web được sử dụng trong phạm vi công cộng. Gần hết thư mục và ''catalog'' của Thư viện được liệt kê ở đây. Thủ thư trên khắp thế giới có thể vào xem các ''catalog'' này, và có thể sử dụng ''Library of Congress Control Number'' để biết chính xác nguồn gốc cuốn sách.