Khác biệt giữa các bản “Mạc Thiên Tứ”

thêm công lao
(thêm công lao)
Năm 1769, quân Khmer dưới sự chỉ đạo của một cướp biển [[người Triều Châu]] tên Trần Liên đổ bộ lên cướp phá Hòn Đất, rồi kết hợp với hai gia nhân của Mạc Thiên Tứ (Mạc Sung và Mạc Khoán), tiến đánh Hà Tiên. Hai gia nhân làm phản và một số lớn cướp biển [[Khmer]] bị Thiên Tứ giết chết, Trần Liên thoát được chạy sang Xiêm La tị nạn. Lợi dụng cơ hội này Mạc Thiên Tứ chuẩn bị đưa hoàng tử Chiêu Thúy về Xiêm La đoạt lại ngôi báu. Ông cho luyện tập binh mã rồi mang quân ra chiếm lại Hòn Đất (1770) và chuẩn bị tiến công Xiêm La.
 
Công việc đang tiến hành thì vào đầu năm 1771, một cận thần của Mạc Thiên Tứ tên Phạm Lam nổi lên làm phản. Phạm Lam kết hợp với hai cướp biển Trần Thái (Vinhly Malu, người [[Mã Lai]]) và Hoắc Nhiên (Hoc Nha Ku, người Khmer) lập đảng gồm 800 người và 15 tàu thuyền tiến vào Hà Tiên nhưng bị Mạc Thiên Tứ đánh bại.
 
Giữa năm 1771, nhận thấy những đám cướp biển không đánh lại Mạc Thiên Tứ, Trình Quốc Anh dùng Trần Liêm làm hướng đạo, đích thân chỉ huy đạo quân 20.000 người tiến chiếm Hà Tiên. Trình Quốc Anh thiêu rụi thành phố, chiếm tất cả các đảo lớn nhỏ quanh Hà Tiên, mang về rất nhiều vàng bạc. Con cháu, hầu thiếp và người con gái út của Mạc Thiên Tứ bị Trình Quốc Anh bắt sống đem về Bangkok. Mạc Thiên Tứ cùng các con trai phải rút về Rạch Giá, cho người về [[Gia Định]] cầu cứu [[chúa Nguyễn]].
Vào khoảng năm 1776, khi quân [[Tây Sơn]] đánh vào Gia Định, truy kích tàn quân [[chúa Nguyễn]], Mạc Thiên Tích cùng Tôn Thất Xuân chạy sang Xiêm. Nhưng tháng 4 năm 1780, vua Xiêm là [[Taksin]] (Trịnh Quốc Anh) nghi ngờ ông làm gián điệp cho [[Gia Định]], bắt giết các con lớn của ông là Mạc Tử Hoàng, [[Mạc Tử Dung]] cùng các phó tướng Tôn Thất Xuân, Tham, Tịnh và 50 người tùy tùng, chỉ để lại con nhỏ là Mạc Tử Sanh và một cháu nhỏ bắt phải đi đày.<ref>Tạ Chí Đại Trường, ''Lịch sử nội chiến Việt Nam'', trang 120</ref>.Quá phẫn uất, ông tự tử<ref> Theo ''Từ điển văn học'' (bộ mới), Nxb Thế giới, 2004, tr. 935. Thi sĩ [[Đông Hồ]] còn cho biết Mạc Thiên Tích tuẫn tiết bằng cách nuốt vàng lá cho bí cuống phổi, ngạt thở mà chết (''Văn học Hà Tiên'', Nxb Văn nghệ TP. HCM, 1999, tr. 148). Hằng năm, cứ đến ngày 24 tháng 10 Âm lịch, tại [[Đền thờ họ Mạc]], một lễ cúng “Đồng cuộc” (tức giỗ hội) được tổ chức trọng thể, để tưởng nhớ 36 người họ Mạc bị tử nạn ở Xiêm. Trương Minh Đạt cho rằng ''Mạc Thị gia phả'' (do Nguyễn Khắc Thuần dịch) chép sự kiện ấy xảy ra ngày 21 tháng 12 Âm lịch là sai (''Nghiên cứu Hà Tiên'', tr. 346).</ref> tại [[Băng Cốc]]. Về sau Mạc Tử Sanh được thả, trở về Gia Định phò giúp [[Nguyễn Ánh]], được phong chức Tham tướng trấn thủ vùng Trấn Giang, có tiếng là tướng giỏi dù mới chỉ 19 tuổi, nhưng mất sớm.<ref>Lúc cha con Mạc Thiên Tích bị Taksin (Trịnh Quốc Anh) làm hại thì các con thứ của ông là Tử Sanh, Tử Tuấn và Tử Thiêm vì còn nhỏ tuổi lại nhờ có Cao La Hâm Hốc (người Cao Miên làm quan nước Xiêm) thương tình giấu kín nên thoát chết. Về sau, năm 1784, Chúa Nguyễn nghĩ đến dòng dõi công thần còn xót lại, bèn dùng Tử Sanh làm Tham tướng phong tước Lý Chánh hầu. Xem thêm [[Mạc Tử Sanh]].</ref>.
 
==NhàCông thơlao==
===Mỡ cõi===
Mạc Thiên Tích học rộng, có tài văn thơ, giao du với nhiều danh sĩ [[Đàng Trong]], lập thành một [[tao đàn]] lấy tên [[Tao đàn Chiêu Anh Các]]. Tập "Hà Tiên thập vịnh" (1737) vịnh 10 cảnh đẹp Hà Tiên, phụ lục thơ hoạ của các nhà thơ trong và ngoài thị xã (một số là người Trung Quốc), gồm 320 bài. Tập "Minh bột di ngư" <ref>Tập thơ ''Minh Bột di ngư'' hiện chưa tìm được trọn vẹn. Nhưng căn cứ vào bài viết của nữ sĩ [[Mộng Tuyết]] đọc trong ngày lễ kỷ niệm 250 năm Chiêu Anh Các, sau đó được in lại trong ''Văn học Hà Tiên'' của thi sĩ Đông Hồ, thì: Trước năm 1945, ông Ngạc Xuyên đã từng gặp sách ''Minh bột di ngư'', bản in của Trịnh Hoài Đức, nhưng hiện nay giới nghiên cứu vẫn chưa tìm được một quyển nào. Sau [[1975]], Viện văn học ở [[Hà Nội]] có chép tặng bà nguyên vẹn bài phú ngót trăm câu (đã được học giả [[Giản Chi]] phiên âm, dịch ra nguyên điệu phú, cũng được in trong ''Văn học Hà Tiên'', tr. 85-98). Và trong số 32 bài thơ luật, nay chỉ mới tìm thấy 2 bài, nhờ chúng được ghi trên vách đền thờ họ Mạc tại Hà Tiên. (''Văn học Hà Tiên'', tr. 78-84)</ref>([[chữ Hán]]) gồm bài phú "Lư Khê nhàn điếu" và 32 bài [[thơ luật Đường]]. Nhà thơ [[Đông Hồ]] sưu tập được 10 đoạn thơ lục bát gián thất bằng [[chữ Nôm]] cũng vịnh cảnh đẹp Hà Tiên tương truyền của Mạc Thiên Tích ("Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh"). Tác phẩm của Mạc Thiên Tích gợi ý cho [[Nguyễn Cư Trinh]] sáng tác "[[Quảng Ngãi]] thập nhị cảnh".
Năm [[1739]], quốc vương Chân Lạp Nặc Bồn (hay Nặc Bôn) mang tới đánh Hà Tiên. Mạc Thiên Tứ điều động binh sĩ chiến đấu suốt ngày đêm. Vợ Mạc Thiên Tứ là Nguyễn Hiếu Túc đốc sức vợ binh lính chuyển khí cụ và lương thực cho binh sĩ...Quân xâm lấn tan, họ Mạc được chúa Nguyễn khen ngợi, đặc cách cử ông làm Đô đốc tướng quân và ban cho áo bào đỏ cùng mũ, đai. Bà vợ ông (Nguyễn Hiếu Túc) cũng được phong làm phu nhân.
 
Năm [[1747]], giặc biển Đức Bụng vào cướp phá vùng ven biển đạo Long Xuyên cũng bị đội quân của Mạc Thiên Tứ đánh đuổi.
 
Năm 1756, quốc vương Chân Lạp là Nặc Nguyên uy hiếp người Côn Man (người [[Chiêm Thành]] di cư sang Chân Lạp), nhưng bị tướng [[Nguyễn Cư Trinh]] đánh bại, phải chạy sang Hà Tiên nương nhờ họ Mạc. Mạc Thiên Tứ dâng thư lên chúa Nguyễn, nói Nặc Nguyên có ý muốn dâng đất Tầm Bôn, Lôi Lạp để chuộc tội. Chúa Nguyễn đồng ý và cho người hộ tống Nặc Nguyên về nước. Hai vùng đất đó trở thành hai phủ [[Gò Công]] và [[Tân An]].
 
Năm [[1757]], Nặc Nguyên mất, chú họ là Nặc Nhuận làm giám quốc, từ lâu có ý muốn làm vua Chân Lạp, liền dâng hai xứ Preah Trapeang và Basac (tức vùng [[Trà Vinh]], [[Ba Thắc]]). Nhưng lúc đó, Nặc Nhuận bị con rể giết chết cướp ngôi. Con trai là Nặc Tôn chạy sang cầu cứu Hà Tiên. Mạc Thiên Tứ đứng ra sắp xếp, xin chúa Nguyễn cho Nặc Tôn làm vua Chân Lạp. Chúa Nguyễn thuận và sai Mạc Thiên Tứ cùng tướng sĩ năm dinh hộ tống đưa Nặc Tôn về nước. Để tạ ơn, Nặc Tôn dâng Tầm Phong Long (vùng đất giữa [[Sông Tiền]] và [[Sông Hậu]]) cho chúa Nguyễn. Riêng họ Mạc, Nặc Tôn dâng năm phủ Hương Úc, Cần Bột, Trực Sâm, Sài Mạt và Lình Quỳnh để đền ơn giúp đỡ. Mạc Thiên Tứ đem hết đất ấy dâng cho Chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn cho sảt nhập vào Hà Tiên trấn, giao cho họ Mạc cai quản. Mạc Thiên Tứ chia đất đó thành hai đạo: xứ [[Rạch Giá]] là Kiên Giang đạo, xứ [[Cà Mau]] là Long Xuyên đạo, đặt quan cai trị, chiêu lập dân ấp.<ref> Lược theo Trương Minh Đạt, ''Nghiên cứu Hà Tiên'', Nxb Trẻ và Tạp chí Xưa & Nay hợp tác ấn hành, 2008, tr. 177.</ref>
 
Ngoài ra, từ [[1775]] đến [[1777]], Mạc Thiên Tứ đã cùng các con là [[Mạc Tử Dung]], Mạc Tử Hoàng, Mạc Tử Thảng (hoặc Thượng) phò tá chúa [[Nguyễn Phúc Thuần]], đóng giữ ở Trấn Giang (nay là [[Cần Thơ]]) và dốc sức phát triển vùng đất này.
 
===Phát triển kinh tế===
Sách ''Đại Nam liệt truyện tiền biên'' ghi:
:''Bính Thìn năm thứ 11 (1736). Mùa xuân chúa cho Thiên Tứ làm Hà Tiên trấn Đô đốc, ban cho ba thuyền Long Bài, được miễn thuế, lại sai mở lò đúc tiền để việc mua bán được thông thương. Thiên Tứ mở rộng phố chợ, thương nhân và lữ khách các nước tụ họp rất đông.''
 
Dẫn lại đoạn sử trên, tác giả Nghiên cứu Hà Tiên khen: ''Ngay khi lãnh nhiệm vụ, Thiên Tứ đã vực dậy nền kinh tế, tạo dựng Hà Tiên thành một cảng khẩu trù phú, sung túc. Điều đó cho thấy năng lực của người lãnh đạo Hà Tiên (ý nói Thiên Tứ) thời đó quả không nhỏ.'' <ref>''Nghiên cứu Hà Tiên'', sách đã dẫn, tr. 178.</ref>
===Đóng góp cho văn học===
Cùng với Trần Trí Khải tự Hoài Thủy, một danh sĩ người Việt Đông ([[Trung Quốc]]), Mạc Thiên Tứ đã tổ chức thành công [[Tao đàn Chiêu Anh Các]] vào năm [[1736]] ở [[Hà Tiên]]. Kể từ đó cho tới năm [[1771]], tao đàn trên đã đóng góp cho nền văn học Việt nhiều tác phẩm có giá trị, như: '''Hà Tiên thập cảnh, Thụ Đức Hiên tứ cảnh, Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh, Minh bột di ngư...''<ref> Xem thêm[[Tao đàn Chiêu Anh Các]]. </ref>
 
==Về năm sinh...==
Mạc Thiên Tứ sinh năm Mậu Tuất (1718). Điều này được biên chép trong các sách sau: