Khác biệt giữa các bản “Mạc Thiên Tứ”

n
không có tóm lược sửa đổi
(thêm công lao)
n
 
Khi phụ thân ông qua đời (1735), lúc ấy ông đã 29 tuổi, ông nối nghiệp cha mở mang đất [[Hà Tiên]], được chúa Nguyễn phong chức Tổng binh Đại Đô đốc.
 
Ông tiếp tục sự nghiệp khai khẩn miền Tây Nam bộ, biến vùng đất Hà Tiên trở thành đất văn hiến, phồn vinh, nhiều lần chống trả lại các cuộc xâm lấn của các lân bang Xiêm La và Chân Lạp.
 
==Lưu vong và mất tại Xiêm La==
 
Vào khoảng năm 1776, khi quân [[Tây Sơn]] đánh vào Gia Định, truy kích tàn quân [[chúa Nguyễn]], Mạc Thiên Tích cùng Tôn Thất Xuân chạy sang Xiêm. Nhưng tháng 4 năm 1780, vua Xiêm là [[Taksin]] (Trịnh Quốc Anh) nghi ngờ ông làm gián điệp cho [[Gia Định]], bắt giết các con lớn của ông là Mạc Tử Hoàng, [[Mạc Tử Dung]] cùng các phó tướng Tôn Thất Xuân, Tham, Tịnh và 50 người tùy tùng, chỉ để lại con nhỏ là Mạc Tử Sanh và một cháu nhỏ bắt phải đi đày.<ref>Tạ Chí Đại Trường, ''Lịch sử nội chiến Việt Nam'', trang 120</ref>.Quá phẫn uất, ông tự tử<ref> Theo ''Từ điển văn học'' (bộ mới), Nxb Thế giới, 2004, tr. 935. Thi sĩ [[Đông Hồ]] còn cho biết Mạc Thiên Tích tuẫn tiết bằng cách nuốt vàng lá cho bí cuống phổi, ngạt thở mà chết (''Văn học Hà Tiên'', Nxb Văn nghệ TP. HCM, 1999, tr. 148). Hằng năm, cứ đến ngày 24 tháng 10 Âm lịch, tại [[Đền thờ họ Mạc]], một lễ cúng “Đồng cuộc” (tức giỗ hội) được tổ chức trọng thể, để tưởng nhớ 36 người họ Mạc bị tử nạn ở Xiêm. Trương Minh Đạt cho rằng ''Mạc Thị gia phả'' (do Nguyễn Khắc Thuần dịch) chép sự kiện ấy xảy ra ngày 21 tháng 12 Âm lịch là sai (''Nghiên cứu Hà Tiên'', Nxb Trẻ và Tạp chí Xưa & Nay hợp tác ấn hành, 2008, tr. 346).</ref> tại [[Băng Cốc]]. Về sau Mạc Tử Sanh được thả, trở về Gia Định phò giúp [[Nguyễn Ánh]], được phong chức Tham tướng trấn thủ vùng Trấn Giang, có tiếng là tướng giỏi dù mới chỉ 19 tuổi, nhưng mất sớm.<ref>Lúc cha con Mạc Thiên Tích bị Taksin (Trịnh Quốc Anh) làm hại thì các con thứ của ông là Tử Sanh, Tử Tuấn và Tử Thiêm vì còn nhỏ tuổi lại nhờ có Cao La Hâm Hốc (người Cao Miên làm quan nước Xiêm) thương tình giấu kín nên thoát chết. Về sau, năm 1784, Chúa Nguyễn nghĩ đến dòng dõi công thần còn xót lại, bèn dùng Tử Sanh làm Tham tướng phong tước Lý Chánh hầu. Xem thêm [[Mạc Tử Sanh]].</ref>.
 
==Công lao==
Năm 1756, quốc vương Chân Lạp là Nặc Nguyên uy hiếp người Côn Man (người [[Chiêm Thành]] di cư sang Chân Lạp), nhưng bị tướng [[Nguyễn Cư Trinh]] đánh bại, phải chạy sang Hà Tiên nương nhờ họ Mạc. Mạc Thiên Tứ dâng thư lên chúa Nguyễn, nói Nặc Nguyên có ý muốn dâng đất Tầm Bôn, Lôi Lạp để chuộc tội. Chúa Nguyễn đồng ý và cho người hộ tống Nặc Nguyên về nước. Hai vùng đất đó trở thành hai phủ [[Gò Công]] và [[Tân An]].
 
Năm [[1757]], Nặc Nguyên mất, chú họ là Nặc Nhuận làm giám quốc, từ lâu có ý muốn làm vua Chân Lạp, liền dâng hai xứ Preah Trapeang và Basac (tức vùng [[Trà Vinh]], [[Ba Thắc]]). Nhưng lúc đó, Nặc Nhuận bị con rể giết chết cướp ngôi. Con trai là Nặc Tôn chạy sang cầu cứu Hà Tiên. Mạc Thiên Tứ đứng ra sắp xếp, xin chúa Nguyễn cho Nặc Tôn làm vua Chân Lạp. Chúa Nguyễn thuận và sai Mạc Thiên Tứ cùng tướng sĩ năm dinh hộ tống đưa Nặc Tôn về nước. Để tạ ơn, Nặc Tôn dâng Tầm Phong Long (vùng đất giữa [[Sông Tiền]] và [[Sông Hậu]]) cho chúa Nguyễn. Riêng họ Mạc, Nặc Tôn dâng năm phủ Hương Úc, Cần Bột, Trực Sâm, Sài Mạt và Lình Quỳnh để đền ơn giúp đỡ. Mạc Thiên Tứ đem hết đất ấy dâng cho Chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn cho sảt nhập vào Hà Tiên trấn, giao cho họ Mạc cai quản. Mạc Thiên Tứ chia đất đó thành hai đạo: xứ [[Rạch Giá]] là Kiên Giang đạo, xứ [[Cà Mau]] là Long Xuyên đạo, đặt quan cai trị, chiêu lập dân ấp.<ref> Lược theo Trương Minh Đạt, ''Nghiên cứu Hà Tiên'', Nxb Trẻ và Tạp chí Xưa & Nay hợp tác ấn hành, 2008, tr. 177.</ref>
 
Ngoài ra, từ [[1775]] đến [[1777]], Mạc Thiên Tứ đã cùng các con là [[Mạc Tử Dung]], Mạc Tử Hoàng, Mạc Tử Thảng (hoặc Thượng) phò tá chúa [[Nguyễn Phúc Thuần]], đóng giữ ở Trấn Giang (nay là [[Cần Thơ]]) và dốc sức phát triển vùng đất này.
:''Bính Thìn năm thứ 11 (1736). Mùa xuân chúa cho Thiên Tứ làm Hà Tiên trấn Đô đốc, ban cho ba thuyền Long Bài, được miễn thuế, lại sai mở lò đúc tiền để việc mua bán được thông thương. Thiên Tứ mở rộng phố chợ, thương nhân và lữ khách các nước tụ họp rất đông.''
 
Dẫn lại đoạn sử trên, tác giả Nghiên cứu Hà Tiên khen: ''Ngay khi lãnh nhiệm vụ, Thiên Tứ đã vực dậy nền kinh tế, tạo dựng Hà Tiên thành một cảng khẩu trù phú, sung túc. Điều đó cho thấy năng lực của người lãnh đạo Hà Tiên (ý nói Thiên Tứ) thời đó quả không nhỏ.'' <ref>Theo ''Nghiên cứu Hà Tiên'', sách đã dẫn, tr. 178.</ref>
===Đóng góp cho văn học===
Cùng với Trần Trí Khải tự Hoài Thủy, một danh sĩ người Việt Đông ([[Trung Quốc]]), Mạc Thiên Tứ đã tổ chức thành công [[Tao đàn Chiêu Anh Các]] vào năm [[1736]] ở [[Hà Tiên]]. Kể từ đó cho tới năm [[1771]], tao đàn trên đã đóng góp cho nền văn học Việt nhiều tác phẩm có giá trị, như: '''Hà Tiên thập cảnh, Thụ Đức Hiên tứ cảnh, Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh, Minh bột di ngư...''<ref> Xem thêm[[Tao đàn Chiêu Anh Các]]. </ref>
 
*''Hà Tiên trấn Hiệp trấn Mạc thị gia phả'' của Vũ Thế Dinh<ref>Vũ Thế Dinh (?-1821) hiệu Thận Vi Thị, làm chức Hà Tiên trấn Tùng trấn cai đội, tước Dinh Đức hầu. Ông mồ côi từ năm 9 tuổi, được Mạc Thiên Tứ nuôi dạy cho đến khi nên người…</ref>, soạn vào năm 1818, ghi:
"Ngày 27 tháng 5 năm [[Ất Mão]] (1735), ông Mạc Cửu bệnh mất, là lúc ông Thiên Tứ mười tám tuổi...”<ref> Dẫn lại theo ''Nghiên cứu Hà Tiên'', do Trương Minh Đạt biên soạn. Tạp chí Xưa & Nay và Nxb Trẻ cùng ấn hành, 2008, tr. 95.</ref>
 
*''[[Gia Định thành thông chí]]'' do [[Trịnh Hoài Đức]] soạn khoảng 1820, chép: