Khác biệt giữa các bản “Cá rô phi”

}}
'''Cá rô phi''' ([[tiếng Anh]]: Tilapia) là tên gọi chỉ chung cho các loài [[cá nước ngọt]] phổ biến, sống tại các [[sông]] [[suối]], [[kênh rạch]], [[ao]] [[hồ]]<ref name="songsinh">{{chú thích web | url = http://dantri.com.vn/c25/s132-253719/ca-ro-phi-song-sinh-dinh-lien-bung.htm | tiêu đề = Cá rô phi song sinh dính liền bụng | author = | ngày = 5 tháng 10 năm 2008 | ngày truy cập = 13 tháng 6 năm 2014 | nơi xuất bản = [[Dân trí (báo)|Báo điện tử Dân Trí]] | ngôn ngữ = }}</ref>, đây là giống cá thuộc họ [[Họ Cá hoàng đế|Cichlidae]] gồm có nhiều chủng, có nguồn gốc phát sinh từ [[châu Phi]] và [[Trung Đông]]. Một trong những [[loài đặc hữu]] của họ cá này là [[cá diêu hồng]] (Oreochromis sp), cá [[rô phi xanh]] (Oreochromis aureus) và [[rô phi sông Nin|rô phi vằn]] (Oreochromis niloticus).
 
So với các loài cá khác thì cá rô phi sớm gần gũi với đời sống của con người. Những hình ảnh cá rô phi đã có ở các bức khắc trên đá trong các kim tự tháp của Ai Cập. Cá rô phi cũng là loài cá được con người đưa vào nuôi đầu tiên vào năm 1924 và sau đó nuôi rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới vào những năm 1940-1950, nhất là ở những nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, thời gian gần đây nuôi rô phi mới thực sự phát triển mạnh mẽ trở thành một ngành nuôi có qui mô công nghiệp, cho sản lượng thương phẩm lớn và đạt hiệu quả kinh tế cao.
==Các loài==
Năm 1964 người ta mới biết khoảng 30 loài cá rô phi, hiện nay đã lên khoảng 80 loài, trong đó chỉ có trên 10 loài có giá trị kinh tế trong nuôi trồng thủy sản. Loài rô phi bé nhất là [[tilapia grahami]] ở hồ magadi của Kênya (châu phi) khi thành thục cá chỉ dài 5 cm và nặng 13 g. Loài rô phi có cỡ lớn nhất là rô phi vằn [[oreochromis niloticus]], gốc ở hồ Rudolf nằm ở ranh giới giữa ba nước [[Kênya]], [[Êtiôpi]] và [[Suđăng]] có con dài trên 64cm, nặng tới 7g.
 
Để có tên khoa học cho cá rô phi như hiện nay, người ta đã phải qua mấy lần đặt, rồi lại đổi tên, năm 1968 tất cả các loài cá rô phi có một chấm đen ở cuối vây lưng (gọi là “chấm tilapia”) đều được xếp vào một giống Tilapia. Từ năm 1973, Trewavas đã đề nghị tách giống Tilapia này thành hai giống mới:
* Nhóm cá rô phi ăn vật bậc cao, đẻ ở đáy, có lược mang thưa (tiêu biểu là rô phi ăn cỏ tilapia rendalli) vẫn được gọi là giống talapia.
* Nhóm cá rô phi ăn tảo (thực vật bậc thấp), ấp trứng và con trong miệng, có lược mang dày (tiêu biểu là rô phi đen t.mossambica, rô phi vằn t.nilotica theo cách gọi tên cũ) nay gọi theo tên mới là sarotherodon.
Gần đây nhất, dựa trên cách phân loại mới của trewavas (1983) người ta phân loại các loài cá rô phi trên thế giới thành ba giống, đó là tilapia, sarotherodon và oreochromis, dựa trên cơ sở di truyền và tập tính sinh sản của chúng.
 
==Đặc điểm==