Khác biệt giữa các bản “USS Yorktown (CV-5)”

n (robot Thay: ru:USS Yorktown (1936))
Nhóm trinh sát của chiếc ''Yorktown'' quay trở về vào lúc 8 giờ 30 phút, hạ cánh không lâu sau khi một nhóm sáu (CAP) vừa cất cánh. Khi chiếc Dauntless cuối cùng được thu hồi, sàn đáp được gấp rút tái bố trí để chuẩn bị tung ra nhóm tấn công: 17 chiếc Dauntless thuộc Phi đội VB-3; 12 chiếc Devastator thuộc Phi đội VT-3, và sáu chiếc Wildcat thuộc Phi đội VF-3. Trong khi đó, ''Enterprise'' và ''Hornet'' cũng tung ra các nhóm tấn công của họ.
Những chiếc máy bay ném ngư lôi từ ba chiếc tàu sân bay Mỹ đã tìm thấy lực lượng tấn c6ngcông Nhật Bản, nhưng chúng gặp phải tai họa. Trong số 41 máy bay thuộc các phi đội VT-8, VT-6, và VT-3, chỉ có sáu chiếc quay trở về ''Enterprise'' và ''Yorktown'', trong khi không có chiếc nào quay trở về ''Hornet''.
Tuy nhiên, việc mất mát những chiếc máy bay ném ngư lôi cũng mang lại một kết quả. Những chiếc máy bay tiêm kích tuần tra trên không Nhật Bản đã rời bỏ vị trí bảo vệ các tàu sân bay trên tầm cao và tập trung vào những chiếc Devastator đang bay sát mặt biển. Bầu trời trên cao bị bỏ ngõ cho những chiếc Dauntless đến từ những chiếc ''Yorktown'' và ''Enterprise''.
[[Image:Yorktown dive bombing.jpg|thumb|left|Khói tuôn ra từ chiếc ''Yorktown'' sau khi bị các máy bay ném bom bổ nhào Nhật đánh trúng nồi hơi trong [[trận Midway]].]]
Ngay khi những kẻ tấn công được nhận diện trên màn hình radar của chiếc ''Yorktown'' vào khoảng 13 giờ 29 phút, nó ngưng việc tiếp nhiên liệu cho những chiếc máy bay tiêm kích tuần tra trên không trên sàn đáp và nhanh chóng chuẩn bị hành động. Những chiếc máy bay ném bom bổ nhào quay trở về được lệnh tránh xa tạo khoảng trống cho hỏa lực phòng không. Những chiếc Dauntless được lệnh bay trên tầm cao nhằm tạo ra một hàng rào tuần tra trên không. Một thùng xăng phụ trữ lượng 800 gallon cũng được đẩy bỏ qua đuôi tàu nhằm hạn chế nguy cơ cháy. Thủy thủ đoàn tháo rỗng các ống dẫn nhiên liệu, đóng chặt và cố định tất cả các ngăn.
 
Tất cả những chiếc máy bay tiêm kích của ''Yorktown'' đều được tung ra để đánh chặn những chiếc máy bay Nhật Bản đang tiến đến gần, và đã chạm trán với nhau ở khoảng cách 24 đến 32 km (15 - 20 dặm). Những chiếc Wildcat đã tấn công một cách quyết liệt, phá vỡ một cuộc tấn công xem ra được tổ chức khá chặt chẻ với khoảng 18 chiếc [[máy bay ném bom bổ nhào]] "Val" và 18 chiếc [[máy bay tiêm kích]] "Zero". "Máy bay bay tán loạn ở khắp mọi hướng", thuyền trưởng Buckmaster sau này ghi lại "và nhiều chiếc bị bốc cháy". Người chỉ huy của tốp "Val", Trung úy Joichi Tomonaga, có thể đã bị bắn rơi bởi chỉ huy phi đội VF-3, Đại úy John S. Thach.[http://www.history.navy.mil/photos/ac-usn22/f-types/f4f.htm].
Cho dù đã có một hàng phòng thủ ngăn chặn mạnh mẽ và sự cơ động lẫn tránh, vẫn có ba chiếc "Val" ném bom trúng đích. Hai chiếc trong số đó bị bắn rơi không lâu sau khi cắt bom; còn chiếc thứ ba bị mất điều khiển ngay sau khi quả bom rời khỏi đế. Nó bay loạng choạng và đâm trúng ngay phía sau thang nâng số hai, nổ tung khi chạm tạo ra một lổ hổng khoảng ba mét vuông trên sàn đáp. Các mảnh bom nổ tung đã giết hại hai khẩu đội pháo 1,1 inch phía sau đảo cấu trúc thượng tầng và trên sàn đáp bên dưới. Các mảnh bom xuyên thủng sàn đáp trúng phải ba chiếc máy bay đang đậu trong sàn chứa, gây ra các đám cháy. Một trong những chiếc máy bay này, một chiếc Dauntless, đã nạp đầy xăng và mang một quả bom 450 kg (1.000 lb). Các phản ứng tức thời của Trung úy A. C. Emerson, sĩ quan chỉ huy sàn chứa, đã ngăn chặn được một đám cháy nghiêm trọng có thể xảy ra bằng cách kích hoạt hệ thống vòi phun chửa cháy và nhanh chóng dập tắt đám cháy.
Quả bom thứ hai ném trúng chiếc tàu từ mạn trái, xuyên thủng sàn đáp, và nổ tung ở phần bên dưới các [[ống khói (tàu)|ống khói]]. Nó phá vỡ ống lấy hơi của ba nồi hơi, làm ngưng hoạt động hai nồi hơi, và làm dập lửa năm nồi hơi. Khói và hơi gas bắt đầu tràn ngập các lò đốt của sáu nồi hơi. Tuy nhiên, thủy thủ đoàn của nồi hơi số một vẫn tiếp tục ở lại vị trí của họ bất chấp sự nguy hiểm và sự khó chịu để tiếp tục đốt lò, giữ cho có đủ áp lực hơi nước để vận hành hệ thống hơi nước phụ trợ.
Quả bom thứ ba ném trúng chiếc tàu từ mạn phải, xuyên thủng cạnh của thang nâng thứ nhất và nổ tung ở hầm thứ tư, gây ra một đám cháy dai dẳng trong hầm chứa ngay sát cạnh kho chứa xăng và đạn phía trước. Hành động cảnh giác trước đây tháo rỗng hệ thống xăng bằng khí carbonic không nghi ngờ gì đã giúp cho xăng không bị bắt cháy.
Trong khi con tàu đang phục hồi các hư hỏng gây ra bởi đợt tấn công của máy bay ném bom bổ nhào, vận tốc của nó giảm còn sáu knot; và đến 14 giờ 40 phút, khoảng 20 phút sau khi quả bom ném trúng làm tắt hầu hết các nồi hơi, ''Yorktown'' đứng chết một chỗ trên mặt nước.
Khoảng 15 giờ 40 phút, ''Yorktown'' chuẩn bị để tiếp tục di chuyển; và đến 15 giờ 50 phút, phòng máy báo cáo rằng họ sẵn sàng để có thể đạt được tốc độ 36 km/h (20 knot) hoặc nhanh hơn. Chiếc tàu chưa hẵn đã bị loại khỏi vòng chiến.
Đồng thời lúc đó, việc chữa cháy đã có hiệu quả đủ đảm bảo cho việc tiếp nhiên liệu trở nên an toàn, ''Yorktown'' bắt đầu tiếp nhiên liệu cho những chiếc máy bay tiêm kích đang trên sàn đáp; thì màn hình radar của con tàu lại bắt được tín hiệu của một tốp máy bay đang tiến đến gần ở khoảng cách 53 km (33 dặm). Trong khi con tàu lại chuẩn bị chiến đấu, tháo rỗng các hệ thống xăng và ngừng việc tiếp nhiên liệu cho những chiếc máy bay trên sàn đáp, nó phóng đi bốn trong số sáu chiếc máy bay tiêm kích tuần tra trên không (CAP) để đánh chặn các kẻ tấn công. Trong số mười chiếc máy bay tiêm kích trên tàu, tám chiếc chỉ có được khoảng 23 gallon nhiên liệu trong thùng chứa. Chúng được tung ra trong khi cặp máy bay tiêm kích CAP còn lại hướng ra đánh chặn những chiếc máy bay Nhật.
[[Image:USS Yorktown hit-740px.jpg|thumb|right|''Yorktown'' bị đánh trúng mạn trái phần giữa tàu bởi một quả ngư lôi Kiểu 91 ném bởi máy bay từ tàu sân bay [[Hiryū (tàu sân bay Nhật)|''Hiryū'']].]]
Lúc 16 giờ, ''Yorktown'' di chuyển với tốc độ 36 km/h (20 knot), trong lúc những chiếc máy bay tiêm kích được tung ra để đánh chặn đã bắt đầu tiếp xúc với đối phương. ''Yorktown'' nhận được báo cáo những kẻ tấn công lần này là những chiếc máy bay ném ngư lôi "Kate". Những chiếc Wildcat đã bắn hạ được ít nhất ba chiếc, nhưng số còn lại tiếp tục tiến đến gần trong khi con tàu sân bay và các tàu hộ tống dựng lên một màn hỏa lực phòng không dày đặc.
''Yorktown'' cơ động để lẫn tránh, né được ít nhất hai quả ngư lôi cho đến khi hai quả khác đâm trúng mạn trái tàu cách nhau ít phút, quả đầu tiên vào lúc 16 giờ 20. Chiếc tàu sân bay giờ đây bị tổn thương chí mạng; nó bị mất điện và đứng chết trên biển, bánh lái bị kẹt và nghiêng dần sang mạn trái.
Khi độ nghiêng tăng dần, [[Trung tá]] [[C. E. Aldrich]], sĩ quan kiểm soát hư hỏng, báo cáo từ trạm trung tâm rằng, vì không có điện, không thể thực hiện việc kiểm soát nước ngập. Sĩ quan phòng máy, Thiếu tá [[J. F. Delaney]], sau đó báo cáo rằng lửa đã được dập, nhưng mọi nguồn điện đều mất và không thể khắc phục độ nghiêng. Buckmaster đã ra lệnh cho Aldrich, Delaney, và người của họ đóng chặt các khoang, tập trung lên boong tàu và mặc áo phao.
Trong khi đó, con tàu tiếp tục nghiêng. Khi nó đạt đến 26<sup>o</sup>, Buckmaster và Aldrich nhất trí rằng khả năng lật úp có thể sắp xảy ra. "Để có thể cứu được thủy thủ đoàn càng nhiều càng tốt", thuyền trưởng sau đó đã viết lại, ông "đã ra lệnh bỏ tàu".
Trong vòng vài phút tiếp theo sau, thủy thủ đoàn đã hạ những người bị thương xuống các bè cứu sinh rồi hướng về các tàu tuần dương và tàu khu trục chung quanh để được vớt lên, rời bỏ con tàu một cách trật tự. Sau khi cho di tản tất cả những người bị thương, Trung tá [[I. D. Wiltsie]], sĩ quan cao cấp, rời tàu bằng một sợi dây bên mạn phải. Trong khi đó, Buckmaster rảo quanh con tàu một lần cuối xem có còn ai. Sau khi thấy không còn ai sống sót ở lại, ông hạ xuống biển qua một sợi dây ở phía đuôi tàu, lúc này nước đã mấp mé cửa sàn chứa máy bay bên mạn trái.
Sau khi được chiếc tàu khu trục [[USS Hammann (DD-412)|''Hammann'']] vớt lên, Buckmaster chuyển sang chiếc tàu tuần dương [[USS Astoria (CA-34)|''Astoria'']] và báo cáo với Chuẩn Đô đốc Fletcher, vốn đã chuyển cờ hiệu của mình sang chiếc tàu tuần dương hạng nặng ngay sau đợt tấn công thứ nhất của các máy bay ném bom bổ nhào. Hai ông đồng ý thành lập một đội cứu hộ để tìm cách giải cứu con tàu, vì nó vẫn ngoan cường tiếp tục nổi cho dù bị nghiêng nặng và nguy cơ lật úp vẫn tồn tại.
Trong khi các nỗ lực nhằm giải cứu ''Yorktown'' được tiến hành từng bước, máy bay của nó vẫn tiếp tục hoạt động, hợp cùng những máy bay của tàu sân bay [[USS Enterprise (CV-6)|''Enterprise'']] tấncông chiếc tàu sân bay cuối cùng của Nhật, chiếc ''Hiryū'', vào cuối buổi chiều hôm đó. Bị đánh trúng bốn phát trực tiếp, con tàu sân bay Nhật đã trở nên vô vọng. Nó bị thủy thủ đoàn bỏ rơi và trôi đi không kiểm soát được.
''Yorktown'', như sau này cho thấy, tiếp tục nổi suốt đêm. Hai thủy thủ vẫn còn sống sót ở lại trên tàu; một người đã cố gắng lôi kéo sự chú ý bằng cách bắn súng máy, và đã được chiếc tàu khu trục duy nhất ở gần đó ''Hughes'' nghe thấy. Chiếc tàu hộ tống đã vớt được họ, nhưng một trong hai ngươôi sau đó đã chết.
Trong khi đó, Buckmaster đã chọn 29 sĩ quan và 141 thủy thủ quay trở lại con tàu trong một cố gắng cứu lấy nó. Năm chiếc tàu khu trục tạo thành một màn chắn tàu ngầm trong khi toán cứu hộ leo lên con tàu vẫn còn đang bị nghiêng, đám cháy trong kho chứa vẫn còn âm ỉ vào buổi sáng ngày [[6 tháng 6]]. Chiếc [[USS Vireo (AT-144)|''Vireo'']], được trưng dụng từ [[Pearl and Hermes Reef]], tiến đến gần vào lai kéo con tàu. Tuy vậy, công việc được tiến hành khá chậm chạp.
Nhóm sửa chữa chiếc ''Yorktown'' lên tàu với một kế hoạch được sắp đặt cẩn thận trước tiến hành bởi người của các bộ phận – kiểm soát hư hỏng, kỹ thuật súng ống, hoa tiêu, liên lạc, tiếp liệu và y tế. Để giúp đỡ tiến hành công việc, Trung tá [[Arnold E. True]] đã đưa chiếc tàu khu trục [[USS Hammann (DD-412)|''Hammann'']] của ông chạy cặp bên mạn phải về phía sau, cung ứng bơm và năng lượng điện.
Đến giữa buổi chiều, xem ra canh bạc giải cứu con tàu đã có phần thắng. Công việc làm giảm bớt trọng lượng phần trên con tàu được tiến hành khả quan, một khẩu pháo 127 mm (5 inch) đã được thả xuống biển qua mạn tàu trong khi một khẩu thứ hai đang được tháo dỡ; máy bay được đẩy qua mạn tàu, các bơm nước hoạt động nhờ nguồn điện cung cấp bởi chiếc ''Hammann'' đã bơm ra được rất nhiều nước khỏi các khoang máy. Các nỗ lực của đội cứu hộ đã làm giảm bớt độ nghiêng của con tàu được khoảng hai độ.
[[Image:USS Hammann sinking 1942-06-06 seen from USS Yorktown.jpg|thumb|left|Tàu khu trục USS [[USS Hammann (DD-412)|''Hammann'']] đang chìm với đuôi tàu nhô cao, sau khi trúng phải ngư lôi của tàu ngầm Nhật [[I-168 (tàu ngầm Nhật)|I-168]].]]
Hoàn toàn không bị ''Yorktown'' và sáu chiếc tàu khu trục gần đó nhận biết, tàu ngầm Nhật Bản [[I-168 (tàu ngầm Nhật)|I-168]] tiến đến một vị trí khai hỏa thuận lợi. Một điều đáng lưu ý là không có tàu khu trục nào nhìn thấy chiếc tàu ngầm đang đến gần, nhưng điều này có lẽ hiểu được do mặt nước biển chung quanh đầy dẫy mảnh vỡ và xác máy bay. Đến 15 giờ 36 phút, một trinh sát viên phát hiện được một loạt bốn quả ngư lôi đang hướng đến con tàu từ mạn phải.
 
==Phần thưởng – Tái phát hiện==