Khác biệt giữa các bản “Chuỗi phản ứng Bowen”

n
không có tóm lược sửa đổi
n
Trong ngành [[địa chất]], '''chuỗiChuỗi phản ứng Bowen''' là công trình của nhà thạch học [[Norman L. Bowen]], ngườitheo đó ông đã giải thích tại sao một số loại [[khoáng vật]] có xu hướng được tìm thấy cùng nhau trong khi các khoáng vật khác hầu như không bao giờ đi cùng với nhau. Ông thực hiện một số thí nghiệm vào những năm đầu của thể kỷ 20 bằng bột đá được nung đến khi tan chảy, và sau đó làm lạnh theo các cấp nhiệt độ cho trước để theo dõi sự hình thành các [[khoáng vật tạo đá]]. Ông lặp đi lặp lại quá trình này nhiều lần ở các mức nhiệt độ khác nhau và các kết quả thu được giúp ông xác lặp một chuỗi các phản ứng mà cho đến ngày nay nó vẫn được chấp nhận để giải thích quá trình kết tinh khoáng vật từ khối [[mácma]] nguội dần. Theo công trình của Bowen, từ các khoáng vật có mặt trong đá có thể suy ra các điều kiện để hình thành các khoáng vật đó.
 
==Mô tả==
{|
|-
|valign="top"|Chuỗi phản ứng bao gồm 2 nhánh: nhánh liên tục và nhánh không liên tục. Nhánh bên phải là nhánh liên tục. Các khoáng vật nằm trên cùng đại diện cho các khoáng vật kết tinh đầu tiên theo gradient nhiệt độ giảm từ trên xuống dưới. Các khoáng vật nằm bên dưới sẽ bền vững hơn so với các khoáng vật nằm trên khi bị [[phong hóa]], vì chúng hình thành trong điều kiện gần với điều kiện của bề mặt đất. Một cách đơn giản, các khoáng vật kết tinh ở nhiệu độ cao từ khối mácma thường không bền vững trên bề mặt đất và dễ bị phong hóa bởi vì môi trường bề mặt khác rất nhiều với môi trường mà nó kết tinh. Trong khi đó, các khoáng vật kết tinh ở nhiệt độ thấp thì ổn định hơn bởi vì môi trường nó hình thành gần với môi trường bề mặt đất hơn.
|width="40%"|{{familytree/start}}
{{familytree| |a| |b| |a=[[olivin]]|b=[[plagiocla]] giàu [[canxi|Ca]] }}
539

lần sửa đổi