Khác biệt giữa các bản “Ninh Tốn”

không có tóm lược sửa đổi
n (→‎Làm quan thời Tây Sơn (1788-1790): Alphama Tool, General fixes)
 
==Thân thế và sự nghiệp==
Ông là người Côi Trì, nay thuộc xã [[Yên Mỹ, Yên Mô|Yên Mỹ]] huyện [[Yên Mô]], tỉnh [[Ninh Bình]]. Theo bia "Côi Trì bi ký" do Ninh Tốn soạn năm [[1769]], thì tổ tiên ông trước ở Ninh Xá, huyện [[Chí Linh]] ([[Hải Dương]])<ref>''Thơ văn Ninh Tốn'', tr. 7.</ref>. Tuy nhiên, theo "Bia Dã Hiên Tiên Sinh Mộ Biểu"<ref>{{Chú thích web|url = http://baotangnhanhoc.org/vi/tin-tuc-su-kien/su-kien-noi-bat/780-mt-bn-gia-hun-45-chng-khc-tren-a-.html|title = Bia Dã Hiên Tiên Sinh Mộ Biểu}}</ref>, sách Ninh Tướng Công Hành Trạng<ref>{{Chú thích web|url = http://hannom.vass.gov.vn/noidung/Disan/Pages/ky-hieu.aspx?ItemID=5511|title = Ninh Tướng Công Hành Trạng}}</ref> và Gia phả họ Ninh tại Côi Trì, thì tổ tiên ông là cụ Doãn Chung từ thôn Ninh Xá Hạ, xã Yên Ninh, huyện [[Ý Yên]] (nay thuộc tỉnh [[Nam Định]]) tới "chiếm xạ" (?) tại Côi Trì vào khoảng năm Hồng Đức triều Hậu Lê khai khẩn đất rồi định cư luôn ở đó.
Cha Ninh Tốn là Ninh Ngạn (''hiệu Dã Hiên, Hy Tăng'')<ref>''Thơ văn Ninh Tốn'', tr. 8.</ref><ref>{{Chú thích web|url = http://hannom.vass.gov.vn/noidung/Disan/Pages/ky-hieu.aspx?ItemID=5511|title = Ninh Tướng Công Hành Trạng}}</ref>, một ẩn sĩ, là tác giả của hai tập sách: Vũ Vu thiển thuyết (''Lời bàn nông cạn về thú ở ẩn'') và Phong vinh tập (''Tập thơ văn Vịnh gió''). Bác của Ninh Tốn là Ninh Địch, đỗ [[Hoàng giáp]] khoa [[Mậu Tuất]] ([[1718]]) đời [[Lê Dụ Tông]].
Năm [[1786]], ông làm Hiệp trấn ở Động Hải (thuộc [[lệ Thủy, Quảng Bình|huyện Lệ Thủy]], tỉnh [[Quảng Bình]]). Khi quân [[Tây Sơn]] đoạt thành [[Cố đô Huế|Phú Xuân]] (1786), tiến đánh ra các đồn Cát Thanh, Động Hải thì ông bỏ đồn mà chạy <ref>Việc Ninh Tốn bỏ đồn tháo chạy, sách ''Hoàng Lê nhất thống chí'' (hồi thứ tư) chép: ''Chiếm xong [[Cố đô Huế|Phú Xuân]], Bình (tức [[Nguyễn Huệ]]) nhân đà thắng kéo quân ra lấy luôn đồn Động Hải. Tướng giữ đồn là Vị phái hầu cùng hiệp trấn là Ninh Tốn mới trông thấy bóng quân Tây Sơn đã chạy trốn. Thế là mất hết cả đất Thuận Hoá. Bấy giờ là ngày 14 [[tháng năm|tháng 5]] năm [[Bính Ngọ]] niên hiệu Cảnh Hưng ([[1786]]).''</ref>. Nhưng sau đó vẫn được giao chức Tham tri chính sự kiêm Bồi tụng cùng với Ngô Trọng Khuê.
 
Năm [[1787]], [[Nguyễn Hữu Chỉnh]] tâu với vua Lê, cho Nguyễn Như Thái làm Thống lĩnh, Ninh Tốn làm Tham tán quân vụ, đem quân họp với quân của Lê Duật, chống quân Tây Sơn do [[Thanh Hóa]]Văn Nhậm chỉ huy. Vốn là người Côi Trì ngay bên dãy Tam Điệp nên ông là người am hiểu rõ vị trí chiến lược của Tam Điệp nên khuyên Nguyễn Như Thái nhanh chóng giữ Tam Điệp để chống Võ Văn Nhậm. Nhưng quân mới tới Phủ Lý thì Võ Văn Nhậm đã vượt qua Tam Điệp.<ref>Hoàng Lê Nhất Thống Chí</ref> Lê Duật bị quân [[Ngô Văn Sở]] giết chết ở Cao Lũng, Nguyễn Như Thái bị tên bắn chết sau khi thua trận ở sông Giản (thuộc [[Ninh Bình]]), còn Ninh Tốn nhờ trốn vào nhà dân được thoát nạn <ref>Xem chi tiết trong ''Hoàng Lê nhất thống chí'', hồi thứ mười.</ref>.
 
===Làm quan thời Tây Sơn (1788-1790)===
19

lần sửa đổi