Khác biệt giữa các bản “Minh Thần Tông”

=== Hậu phi ===
*[[Hiếu Đoan Hiển hoàng hậu]] Vương Hỷ Thư (孝端顯皇后 王喜姐, 1564 - 1620), người [[Chiết Giang]], cha là Vĩnh Niên bá Vương Vĩ (永年伯 王偉).
*[[Hiếu Tĩnh Hiển hoàng hậu]] Vương thị (1565 - 1611), vốn là cung nhân của Từ Thánh hoàng thái hậu, do dung mạo xinh đẹp được sủng hạnh, khiến bà có thai. Thái hậu biết chuyện, sai người đến khám và thực có thai. Năm [[1582]], sắc phong làm Cung phi (恭妃), sau đó bà sinh ra Trưởng hoàng tử Chu Thường Lạc (朱常洛). Năm [[1605]], cháu nội là Chu Do Hiệu (朱由校) sinh, Từ Thánh thái hậu nhân đó khuyên Vạn Lịch đế tôn phong Vương Cung phi làm [[Hoàng quý phi]]. Khi bà qua đời, được truy phong làm '''Ôn Túc hoàng quý phi''' (温肃皇贵妃), khi Chu Thường Lạc lên kế vị, với dâng thụy hiệu '''Hiếu Tĩnh Ôn Ý Kính Nhượng Trinh Từ Tham Thiên Dận Thánh Hiển hoàng hậu''' (孝靖温懿敬让贞慈参天胤圣皇后).
*Cung[[Hiếu KhácNinh hoàngHiển quýHoàng phiHậu ]] Trịnh thị (1565 - 1630), sủng phi của Vạn Lịch đế. Năm [[1586]] tiến phong Hoàng quý phi, bà sinh cho Vạn Lịch ba Hoàng tử và ba Công chúa, nhanh chóng đạt được ngôi vị Phi tần cao nhất Hậu cung., sau khi bà qua đời được truy tôn '''Cung Khác hoàng quý phi''' .Sau này, cháu nội Hoằng Quang đế nhà [[Nam Minh]] là [[Chu Do Tung]] truy phong bà làm '''Hiếu Ninh Ôn Mục Trang Huệ Từ Ý Hiến Thiên Dụ Thánh Hiển hoàng hậu''' (孝寧溫穆莊惠慈懿憲天裕聖皇后).
*Cung Thuận hoàng quý phi Lý thị (? - 1597).
*Tuyên Ý Chiêu phi Lưu thị (1557 - 1642).
Người dùng vô danh