Khác biệt giữa các bản “Phép tính lambda”

không có tóm lược sửa đổi
(Trang mới: “Trong toán học logickhoa học máy tính, '''giải tích lambda''', hay còn được viết là '''λ-calculus''', là một [[hệ thống mang tính hình th…”)
 
Trong giải tích lambda, các hàm là [[first-class entity|first-class entities]]: được truyền vào như các tham số, và trả lại kết quả. Bởi vậy các biểu thức lambda là một dạng của khái niệm thủ tục không có tên mà không tạo ra [[hiệu ứng phụ]]. Giải tích hàm có thể được hiểu như là một ngôn ngữ lập trình lý tưởng và vô cùng nhỏ gọn. Nó có khả năng biểu diễn bất kỳ [[giải thuật]] nào, và nó tạo ra mô hình [[lập trình hàm]]. Các chương trình được tạo thành từ các hàm không có trạng thái và chỉ đơn giản nhận vào dữ liệu và trả lại đầu ra, không tạo ra các hiệu ứng phụ làm thay đổi dữ liệu đầu ra. Các ngôn ngữ lập trình hàm hiện đại, xây dựng dựa trên giải tích lambda gồm có [[Erlang (programming language)|Erlang]], [[Haskell (programming language)|Haskell]], [[Lisp (programming language)|Lisp]], [[ML (programming language)|ML]], và [[Scheme (programming language)|Scheme]],cũng như là các ngôn ngữ gần đây như [[Clojure]], [[F Sharp (programming language)|F#]], [[Nemerle]], và [[Scala (programming language)|Scala]].
 
Giải tích lambda tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong [[các nghiên cứu cơ bản về toán học]], thể hiện trong các thư từ trao đổi của [[Curry-Howard correspondence]]. Tuy nhiên, giải tích lambda không xác định kiểu (untyped) không tránh khỏi các nghịch lý về lý thuyết tập hợp (xem trong [[Kleene-Rosser paradox]]).
 
Bài báo này chỉ trình bày về "giải tích lambda không xác định kiểu" (untyped lambda calculus) được đưa ra bởi Church. Các ứng dụng hiện đại quan tâm chủ yếu đến [[giải tích lambda xác định kiểu cụ thể]].
Người dùng vô danh