Khác biệt giữa các bản “M16”

Không thay đổi kích thước ,  6 năm trước
n
bỏ dấu, replaced: lọat → loạt using AWB
n (bỏ dấu, replaced: lọat → loạt using AWB)
M16 khá nhẹ (3–4&nbsp;kg) do có các phần làm bằng thép, hợp kim, nhôm và nhựa cứng (sợi thủy tinh hoặc polymer), sử dụng kỹ thuật giảm nhiệt bằng hơi, tác động lên cò bằng khí ép <ref>[[:en:Gas-operated|tiếng Anh:]] Gas-operated - kỹ thuật súng máy, dùng khí ép tạo bởi sức nổ của viên đạn trước đẩy khóa nòng ra sau, nhả vỏ của viên đạn vừa sử dụng và lên cò cho viên đạn kế tiếp</ref>, đạn nạp từ băng tiếp đạn với cơ cấu khóa nòng xoay <ref>[[:en:Rotating bolt|tiếng Anh:]] Rotating bolt - một cơ động nạp và khóa cò trong hộp súng.</ref>.
[[Tập tin:M16A1 brimob.jpg|nhỏ|trái|M16A1 with a 30-round magazine]]
Có ba loạt khác nhau trong qua trình sản xuất súng M16. Loạt đầu tiên: M16 và M16A1, sử dụng trong thập niên 1960, bắn đạn M193/M196 (hoặc.223 Remington), có thể hoàn toàn tự động hay bán tự động, và hai mẫu XM16E1 và M16A1 đồng lọatloạt được sử dụng ở chiến trường Việt Nam. Loạt kế là M16A2, thập niên 1980, bắn đạn M855/M856 (do [[Bỉ]] sáng chế sử dụng cho trung liên FN Minimi), có khả năng bắn từng viên hay bắn từng loạt 3 viên. Loạt sau cùng là M16A4, súng trường tiêu chuẩn của [[Thủy quân lục chiến]] [[Hoa Kỳ]] trong [[chiến tranh Iraq]]. M16A4 và súng trường [[M4 Carbine]] dần dần được dùng thay thế M16A2, vốn đã hơi lỗi thời và kém tiện dụng. So với M16A1 và A2, M16A4 và M4/M4A1 có một số cải tiến về hình dáng ngoài: quai xách tháo rời có thể dùng để gắn [[kính ngắm]], dụng cụ chấm mục tiêu bằng tia [[laser]], [[kính nhìn ban đêm]], [[đèn]] và súng phóng lựu.
<!--
[[Tập tin:101st Airborne Division - Vietnam 03.jpg|nhỏ|trái|Một lính Mỹ đang lau khẩu XM16E1 năm 1966.]]
5.152

lần sửa đổi