Khác biệt giữa các bản “An Đồng (Bắc Ngụy)”

không có tóm lược sửa đổi
n
'''An Đồng''' ([[chữ Hán]]: 安同, ? – [[429]]), sanhsinh quán [[Liêu Đông]], quan viên, khai quốc công thần [[nhà Bắc Ngụy]] trong [[lịch sử Trung Quốc]].
 
==Xuất thân==
Tổ tiên của Đồng tên Thế Cao, là thị tử <ref>Thị tử là Vương(vương tử của thuộc quốc đến [[nhà Hán]] để bồi thị Hoàngvua đế</ref>Hán) của nước An Tức (tức [[đế quốc Parthia]]) đến [[Lạc Dương]] vào [[đời Hán]]. Hậu duệ của Thế Cao lấy tínhhọ là An, trải qua các đời [[Tào Ngụy|Ngụy]], [[Nhà Tấn|Tấn]], tránh loạn đến Liêu Đông, định cư ở đấy.
 
Cha Đồng là Khuất, làm Điện trung lang tướng [[Tiền Yên|nhà Tiền Yên]]. [[Tiền Tần]] diệt [[Tiền Yên]], bạn của Khuất là Công Tôn Quyến có em gái nhập cung nhà Tiền Yên, xuất làm vợ của thủ lãnhlĩnh Độc Cô bộ là [[Lưu Khố Nhân]]. Công Tôn thị được Khố Nhân sủng ái, vì thế Công Tôn Quyến có thể buôn bán trong vùng đất mà Khô Nhân kiểm soát. Đồng theo Quyến làm ăn, gặp gỡ Thác Bạt Khuê đang nương nhờ tại Độc Cô bộ, thấy Khuê có tài tế thế, bèn ở lại phụng sự ông ta. Đồng tính đoan nghiêm minh huệ, nói năng theo lối trường giả.
 
==Phụng sự Đạo Vũ đế==
Thác Bạt Đảo giám quốc, lâm triều thính chánh, lấy Đồng làm Tả phụ. Minh Nguyên đế đánh Hà Nam, bái Đồng làm Hữu quang lộc đại phu. Thác Bạt Đảo ra giữ biên giới phía bắc, Đồng cùng An Định vương Thác Bạt Di ở lại giữ kinh sư. Thác Bạt Đảo lên ngôi, là [[Bắc Ngụy Thái Vũ đế]], cho Đồng tiến tước Cao Dương công, bái làm Quang lộc huân. Sau đó được nhận chức Chinh đông đại tướng quân, Ký, Thanh 2 châu thứ sử.
 
Năm Thần Gia thứ 2 (429), ông mất., Đượcđược truy tặng Cao Dương vương, thụy là Cung Huệ.
 
==Đánh giá==
61.924

lần sửa đổi