Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Trận thành Hà Nội (1882)”

n
n (nguồn tự xuất bản của Cikki)
n (→‎Phía Việt Nam: binh lực)
 
Đầu năm 1882, lấy cớ Việt Nam không tôn trọng hiệp ước năm 1873 mà lại đi giao thiệp với [[Tên gọi Trung Quốc|Trung Hoa]], dung túng [[quân Cờ Đen]] (một nhánh quân của [[Thái Bình Thiên Quốc]]) ngăn trở việc giao thông trên [[sông Hồng]] của người Pháp, Đại tá [[Henri Rivière]] của Hải quân Pháp cho tàu chiến cùng hơn 400 quân đóng trại tại Đồn Thủy (khu nhượng địa của Pháp từ năm 1873, trên bờ Nam sông Hồng, cách thành Hà Nội 5 km, tại vị trí bệnh viện Việt Xô ngày nay) nhằm uy hiếp Hà Nội. Hoàng Diệu đã hạ lệnh giới nghiêm tại Hà Nội và bố cáo các tỉnh xung quanh sẵn sàng tác chiến, đồng thời yêu cầu viện binh từ triều đình Huế. Tuy nhiên, vua Tự Đức đã hạ chiếu quở trách Hoàng Diệu đã đem binh dọa giặc và chế ngự sai đường. Nhưng Hoàng Diệu đã quyết tâm sống chết với thành Hà Nội. Ông cùng với Tuần phủ Hoàng Hữu Xung, Đề đốc Lê Văn Trinh, Bố chính Phan Văn Tuyển, Án sát Tôn Thức Bá và Lãnh binh Lê Trực uống rượu hòa máu tỏ quyết tâm sống chết với Hà thành.
 
Lực lượng phòng thủ tại Hà Nội, theo bá tước De Kergaradec, lãnh sự đầu tiên của Pháp tại Hà nội từ năm 1875, trong báo cáo về các lực lượng An nam Bắc Kỳ năm 1880, cho biết<ref>Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung hoa- 1847 - 1885, Yoshiharu Tsuboï</ref>: quân đội Việt nam ứng trực tại Bắc kì không chia ra kị binh hay pháo binh, mà chỉ gồm toàn bộ binh. Quân An Nam tại Bắc Kỳ được chia làm hai loại
a) Binh lính từ Kinh đô Huế, được coi là ưu tú nhất nước. Hai tiểu đoàn được đặt dưới quyền của Hoàng kế Viêm đóng trong tỉnh Sơn tây. Một nghìn năm trăm lính khác được phân cho các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Nội và Hải Dương. Lính từ kinh đô tới phục vụ Bắc Kỳ lên đến 2500 người
b) Lính của các tỉnh, trên giấy tờ có khoảng 60.000 quân; nhưng trên thực tế nhiều lắm chỉ có được một phần tư (15.000). Ngoài ra còn có 5000 lính lệ của phủ huyện, và 5000 lính phu trạm. Ngoài ra còn phải kể đến những lực lượng quân sự khác đồn trú tại Bắc Kỳ như quân Cờ đen có từ 1500 tới 1600 quân, dũng cảm và vũ trang tốt hơn quân chính qui An Nam.
 
Về mặt vũ khí: hai phần ba lính không có súng, mà chỉ được trang bị một cây giáo hoặc gươm. Một phần ba có súng, nhưng phần nhiều là những khẩu hoa mai cũ kĩ; người ta thấy có một trăm khẩu súng nhồi thuốc trong thành Hà Nội.
 
Tình hình phòng thủ Thành Hà nội, tổng số lính ghi trong sổ quân:
Số lính chính quy: 7.496 gồm
- Mười tiểu đoàn chính quy: 5.922
- Thủy binh: 541
- Hai trung đội thu thuế thương chính: 108
- Pháo binh giữ tường thành: 151 (hai trung đội).
Số lính phụ binh: 1.574 gồm
- Một tiểu đoàn lính vệ (tình nguyện): 442
- Lính giám thành: 500
- Lính chạy trạm: 632
 
Thành Hà nội được xây dựng theo hình mẫu châu Âu từ thế kỉ trước, bản vẽ do các sĩ quan Pháp từng phục vụ vua Gia Long thực hiện. Mỗi cạnh tường thành dài ít nhất là 1200 mét, đắp bằng đất, bên ngoài phủ một lớp gạch lớn rất chắc. Trên mặt thành có 49 khẩu đại bác, nhưng tất cả đều bị rỉ sét và chắc là không phát pháo được.
 
===Phía Pháp===