Khác biệt giữa các bản “Keo hoa vàng”

Không thay đổi kích thước ,  6 năm trước
Mọt-> Một
(Mọt-> Một)
Sau khi quá trình ra hoa kết thúc, vỏ túi hạt hình hơi bẹt, thẳng hoặc cong, dài 5 – 14&nbsp;cm (2 - 5,5 in), rộng 5–8&nbsp;mm.<ref name =NSW /><ref name=costermans>{{cite book|author=Costermans, Leon| title=Native Trees and Shrubs of South-eastern Australia |publisher=Rigby|location= Kent Town, South Australia | year=1981 |page=317| isbn =978-0-7270-1403-0}}</ref> Lúc cây bé, vỏ túi hạt màu xanh lá cây, khi trưởng thành có màu nâu sẫm và hơi khít lại giữa các hạt,<ref name="Simmons1987">{{cite book|author=Simmons, Marion H. |title=Acacias of Australia|date= 1987|pages=164–65|publisher=Nelson|isbn=978-0-17-007179-6}}</ref> tạo thành một chuỗi.<ref name=NSW/> Các hạt thuôn dài có độ dài 5,5 – 6&nbsp;mm, màu đen bóng, áo hạt có hình chùy,{{sfn|Kodela|2001|p=298}} xuất hiện vào tháng 12 và tháng 1, khi vỏ túi đã chín.<ref name="buttrose"/>
 
MọtMột số loài tương tự là cây keo mại châu (''[[Acacia obliquinervia]]''), cây keo vàng ven bờ biển (''[[Acacia leiophylla]]'') và cây keo vàng dạng vòng hoa (''[[Acacia saligna]]'').{{sfn|Kodela|2001|p=298}} ''Acacia obliquinervia'' có cuống lá màu xám xanh, ít hoa, và vỏ hạt rộng hơn (1,25-2,5&nbsp;cm (1/2–1 in)).{{sfn|Kodela|2001|p=251}} ''Acacia leiophylla'' có cuống lá nhạt màu.{{sfn|Elliot|Jones|1985|p=74}} ''Acacia saligna'' có cuống lá dài, hẹp hơn.<ref name=QLD/>
 
== Quá trình phân loại ==
20

lần sửa đổi