Khác biệt giữa các bản “Chiến tranh Tám Mươi Năm”

không có tóm lược sửa đổi
{{Infobox military conflict
|conflict=Chiến tranh támTám mươi nămNăm
|image=[[Tập tin:Veen01.jpg|300px]]
|caption=Quân tiếp viện Tây Ban Nha sau khi Leiden thất thủ, 1574
|combatant2={{flagicon|Spain|1506}} [[Đế quốc Tây Ban Nha]]<br />{{flagicon|Holy Roman Empire}} [[Đế quốc La Mã Thần thánh|Thánh chế La Mã]]
}}
'''Chiến tranh Tám mươi nămNăm''' hay còn được gọi là '''Chiến trành giành Độc lập Hà Lan''' (1568–1648)<ref>The Dutch States-General, for dramatic effect, decided to promulgate the ratification of the Peace of Münster (which was actually ratified by them on ngày 15 tháng 5 năm 1648) on the 80th anniversary of the execution of the Counts of Egmont and Horne, ngày 5 tháng 6 năm 1648. See Maanen, H. van (2002), ''Encyclopedie van misvattingen'', Boom, trang 68, ISBN 90-5352-834-2.</ref> là một cuộc nổi dậy của mười bảy tỉnh chống lại [[Felipe II của Tây Ban Nha]], chúangười đấtcai trị [[Hà Lan thuộc Nhà Habsburg]].
{{sơ khai}}
'''Chiến tranh Tám mươi năm''' hay còn được gọi là '''Chiến trành giành Độc lập Hà Lan''' (1568–1648)<ref>The Dutch States-General, for dramatic effect, decided to promulgate the ratification of the Peace of Münster (which was actually ratified by them on ngày 15 tháng 5 năm 1648) on the 80th anniversary of the execution of the Counts of Egmont and Horne, ngày 5 tháng 6 năm 1648. See Maanen, H. van (2002), ''Encyclopedie van misvattingen'', Boom, trang 68, ISBN 90-5352-834-2.</ref> là một cuộc nổi dậy của mười bảy tỉnh chống lại [[Felipe II của Tây Ban Nha]], chúa đất [[Hà Lan thuộc Habsburg]].
 
Trong giai đoạn đầu, Felipe II triển khai quân đội của mình và đập tan quân phiến loạn và giành lấy lại quyền kiểm soát tại hầu hết các tỉnh nổi dậy. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của [[Willem de Zwijger|Willem xứ Orange]], các tỉnh miền Bắc tiếp tục kháng cự và đánh bại quân đội của hoàng tộc [[Habsburg]], và thành lập Cộng hòa của bảy tỉnh Hà Lan. Sau đó cuộc chiến tiếp tục diễn ra, mặc dù cương thổ của họ không còn bị đe dọa. Chiến tranh kết thúc năm 1648 với việc Hòa ước Münster được ký kết, và nước Cộng hòa Hà Lan được chính thức công nhận là quốc gia độc lập.
Thời trung đại, lãnh thổ Hà Lan bị chia thành một số lãnh địa phong kiến, một số thuộc Pháp, một số thuộc Ðức. Cuối thế kỷ mười lăm, họ Habsburg đã giành quyền cai tri trên toàn vùng đất này. Lúc [[Karl V của đế quốc La Mã Thần thánh|Carlos I của Tây Ban Nha]] còn sống, vùng đất Hà Lan vẫn còn nắm một vị trí nhất định, nhưng khi Felippe II lên ngôi, Hà Lan được xem như một lãnh địa phụ thuộc chặt chẽ vào Tây Ban Nha. Mọi quyền hành trong nước đều nằm trong tay toàn quyền Tây Ban Nha là Marguerite và viên phụ chính là Hồng y Granvella.
 
Trên lãnh vực tôn giáo, Tây Ban Nha đã thi hành một chính sách đàn áp tôn giáo khốc liệt, đặc biệt là tân[[Tân giáo]]. NhữngCác họchệ thuyếtphái Tin Lành phát sinh từ [[Cải cách Tin Lành|cuộc Cải cách]] đều bị cấm đoán, bao gồm phong trào [[Lutheran]] của [[Martin Luther]], phong trào [[John Calvin|CalvinAnabaptist]] đềucủa bị[[Menno cấmSimons]] phổ biến, nhữngtưởng người[[Thần theohọc đạo KhángCalvin|Cải cách]] đềucủa bị[[Jean truy lùngCalvin]]. Chính quyền Tây Ban Nha đã lập ra [[pháp đình tôn giáo|tòa án tôn giáo]] ở Hà Lan để xét xử các tín đồ theo đạo KhángTin cahsLành. Tuy chính quyền ban hành các sắc lệnh cấm đạo và những cuộc hành hình ngày càng nhiều, nhưng số người theo KhángTin cáchLành ngày càng đông.
 
==Chú thích==
{{Tham khảo}}
 
==Tham khảo==
 
{{sơ khai lịch sử}}
 
[[Thể loại:Chiến tranh]]