Khác biệt giữa các bản “Kim Ai Tông”

n
clean up, replaced: . → . (3), sinh mẫu → mẹ đẻ using AWB
n
n (clean up, replaced: . → . (3), sinh mẫu → mẹ đẻ using AWB)
}}
 
'''Kim Ai Tông ''' ([[chữ Hán]]: 金哀宗, [[bính âm]]: ''Jin Aizong'', [[25 tháng 9]] năm [[1198]] - [[9 tháng 2]] năm [[1234]]), tên Hán là '''Hoàn Nhan Thủ Lễ''' (完顏守禮) hay '''Hoàn Nhan Thủ Tự''' (完顏守緒), [[tên Nữ Chân]] là '''Ninh Giáp Tốc''' (寧甲速), là vị [[hoàng đế]] thứ 9 của triều đại [[nhà Kim]] trong [[lịch sử Trung Quốc]]. Ông là con trai thứ ba của [[Kim Tuyên Tông]] Hoàn Nhan Tuân, mẹ là Vương thị, chào đời năm [[1198]]. Khi Tuyên Tông đăng cơ ([[1213]]), Thủ Lễ được nhận tước vị Toại vương. Do thái tử [[Hoàn Nhan Thủ Trung]] và thái tôn [[Hoàn Nhan Khanh]] mất sớm nên vào tháng giêng năm [[1216]], Hoàn Nhan Thủ Lễ được Tuyên Tông lập làm thái tử, đổi tên là Hoàn Nhan Thủ Tự. Tháng giêng ÂL năm [[1224]], Tuyên Tông qua đời, Hoàn Nhan Thủ Tự lên nối ngôi, tức là Kim Ai Tông .
 
Kim Ai Tông là một vị vua có lòng chấn hưng đất nước nhưng tiếc là không gặp thời. Lúc ông lên ngôi, nước Kim đã ở trong tình thế ngặt nghèo: một mặt là quân [[Mông Cổ]] liên tục xâm lấn, phần đất phía bắc sông [[Hoàng Hà]] gần như đã bị cướp sạch, người Mông đã bắt đầu đưa quân vượt sông tràn vào [[Trung Nguyên]]. Mặt khác trên mặt trận phía nam, triều Kim cũng thất bại trong các cuộc chiến tranh với [[Nam Tống]], mất đất đai và khoản tiền triều cống, phía tây lại bị [[Tây Hạ]] liên tục quấy nhiễu, nước Kim đã ở trong tình thế sắp diệt vong. Để cứu vãn tình hình, Ai Tông chủ trương khuyến khích, phục hưng nông nghiệp, vỗ về dân chúng, tiến hành cải cách nội bộ, bỏ gian dùng hiền, bên ngoài đình chỉ chiến tranh với triều Tống, thiết lập lại quan hệ hữu hảo với [[Tây Hạ]], bổ nhiệm nhiều tướng giỏi cho mặt trận chống Mông, ban đầu đã có những chuyển biến tốt đẹp, triều Kim dần thu lại không ít đất đai bị mất.
có hơn 3 vạn người đóng ở Đông Hoa môn, đồng thời mệnh bốn người hộ vệ giam giữ Thủ Thuần lại. Sau đó ông cho tuyên di chiếu, tức vị trước cữu tiền, tức là '''Kim Ai Tông ''', cải nguyên là Chánh Đại<ref name="TTTTG162" />.
 
Không lâu sau khi lên ngôi, Ai Tông hạ chiếu đại xá trong nước và bắt tay vào công cuộc phục hưng. Vào đầu năm ÂL [[1224]], Bí thư giám, Lại bộ thị lang [[Bồ Sát Hợp Trụ]] cùng Tả tư viện ngoại lang Nê Bàng Cổ Hoa Sơn (những người nắm nhiều quyền lực và làm nhiều việc ác dưới thời Tuyên Tông) bị Ai Tông nghi ngờ và cách chức lưu đày đến Hằng và Trinh châu. Việc hai gian thần bị biếm chức khiến sĩ đại phu đều phấn khích. Mấy hôm sau, Ai Tông bàn định với quần thần phương sách khôi phục phủ Hà Trung vừa bị mất vào tay [[Mông Cổ]]; các đại thần [[Triệu Bỉnh Văn]], [[Dương Vân Dực]] cho rằng tình hình [[Thiểm Tây]] chưa yên nên sự việc bị đình chỉ. Tôn hoàng hậu Ôn Đôn thị và Nguyên phi Ôn Đôn thị đều là hoàng thái hậu, trong đó hoàng hậu Ôn Đôn thị sống ở cung Nhân Thánh còn sinhmẹ mẫuđẻ của vua Kim sống ở cung Từ Thánh<ref name="TTTTG162" />. Ai Tông lại dùng [[Lý Hề]] làm Thái thường khanh, quyền Tham tri chính sự và bãi chức của hoàng huynh Anh vương Thủ Thuần, đổi làm Kinh vương, đưa đến phủ Mục Thân<ref name=KS17 />.
 
Thừa tướng nước Kim [[Cao Nhữ Lệ]] khi đó tuổi đã có nhưng vẫn ở ngôi vị không từ gian, gián quan nhiều lần đàn hặc là tham quyền cố vị và xin bãi chức để tránh lệ xấu về sau, Ai Tông không theo, đến tháng 3 ÂL năm đó thì [[Cao Nhữ Lệ]] qua đời. Lại dùng [[Trương Hành Tín]] làm Tả thừa, [[Hoàn Nhan Hợp Đạt]] có công chinh chiến được phong Tham tri chính sự, điều hành thượng thư tỉnh ở Kinh Triệu. Sau đó có người tố cáo Kinh vương Thủ Thuần mưu phản, Ai Tông bắt Thủ Thuần hạ ngục. Từ Thánh thái hậu biết việc, bèn dẫn chuyện [[Kim Chương Tông]] trước kia giết oan các hoàng thúc để can ngăn, vì thế Thủ Thuần được tha<ref name="TTTTG162" />.
== Vứt bỏ Biện Kinh ==
 
Đầu năm [[1232]], Ông cải niên hiệu là Khai Hưng, đến tháng 4 cải nguyên Thiên Hưng. Không bao lâu sau, quân [[Mông Cổ]] lại từ Đường châu tiến đến Biện Kinh. Nguyên soái nước Kim [[Hoàn Nhan Lưỡng Lạc]] thua trận Tương Thành, chạy thẳng về Biện. Ai Tông hạ lệnh quần thần đến bàn bạc rồi quyết định tuyển mộ đinh tráng bảo vệ kinh thành, lại sai Qua Nhĩ Giai Tát Cáp dẫn 3 vạn quan tuần tra vùng phía nam Hoàng Hà ... Quân Mông Cổ từ huyện Hà Thanh vượt sông, tiến đến Trịnh châu. Mông chủ sai [[Tốc Bất Đài]] tiến quân vào Biện<ref name="TTTTG166">''[[Tục tư trị thông giám]]'', [[:zh:s:續資治通鑑/卷166|quyển 166]].</ref>. Ai Tông cử [[Hoàn Nhan Hợp Đạt]], [[Y Lý Bố Cáp]] từ Đặng châu đưa quân cứu việc kinh thành, nhưng lại gặp [[Đà Lôi]] cùng 3000 quân kị đánh từ phía sau, lại có thêm mưa to tuyết lớn khiến cánh quân Đặng châu không thể tiến nhanh về kinh thành. Đến lúc tuyết tan, Hợp Đạt mới cho quân tiến nhanh hơn. Nhưng khi quân cứu viện vừa đến núi Tam Phong thì quân Mông Cổ từ đâu ùa tới chặn đánh, bao vây quân Kim suốt ba ngày, quân Kim đại bại. Các tướng Kim [[Dương Ốc Diễn]], [[Phàn Trạch]], [[Trương Huệ]] tử trận, [[Hoàn Nhan Hợp Đạt]] bỏ chạy về Quân châu<ref name="TTTTG166" />. Mông chủ hạ lệnh đánh sang cả Quân châu và phá thành, giết chết [[Hoàn Nhan Hợp Đạt]], [[Y Lý Bố Cáp]] cũng bị bắt giết trên đường bỏ trốn về Biện, nước Kim tướng giỏi đã mất gần hết, từ đó không còn có thể vực dậy được nữa.
 
Mông Cổ quân tiến đánh các câu Quắc, Tung, Nhữ, Thiểm, Lạc, Hứa, Trịnh, Trần, Bạc, Dĩnh, Thọ, Tuy, Vĩnh bắt dân chúng dời lên phía bắc, nhiều người bị chết ở dọc đường. Lại đánh sang cả Đồng Quan và Thiểm châu, giết tướng [[Hoàn Nhan Ô Đăng]], rồi lấy Tuy châu, bao vây phủ Quy Đức. Ai Tông thấy thế nguy cấp, có lần túng quẫn đến nỗi muốn tự vẫn, may mà tả hữu cứu kịp. Ông theo kiến nghị từ quần thần, cho triệu tập 20 vạn dân quân bảo vệ Biện Kinh.
Đến tháng 3 ÂL, quân Mông lại kéo pháo tới bao vây Lạc Dương<ref name="TTTTG166" />. Tướng giữ Lạc Dương Triệt Hợp mắc bệnh ung thư qua đời, người trong thành đưa Cường Thân làm chủ huy, kiên trì cố thủ, người Mông đánh suốt ba tháng không được. Lúc này Mông Cổ chủ muốn về nước, lệnh [[Hoàn Nhan Hợp Đạt]] đánh Biện gây sức ép và buộc Ai Tông phải nhanh chóng hàng phục. Ông phong cho con trai Kinh vương Thủ Thuần là [[Hoàn Nhan Ngoa Khả]] là Tào vương cùng Thượng thư Tả thừa Lý Hề, Gián nghị đại phu [[Bùi Mãn A Hổ Đái]], Thái phủ giám quốc Thế Vinh cùng đến Trịnh châu dâng thư xưng cháu, nộp lễ vật nghị hòa, lấy [[Dương Tháo]] làm Quyèn Tham tri chính sự. Nhưng [[Tốc Bất Đài]] không đồng tình, cho giữ Tào vương lại, thả Lý Hề về và ra sức đánh Biện, Ai Tông phải ra khỏi Thừa Thiên Môn đến cửa tây gặp tướng sĩ, Thiên hộ Lưu Thọ nói lời không cung kính, Ai Tông có chiếu bỏ qua không hỏi đến. Mấy hôm sau lại đến cửa đông gặp tướng sĩ, ban rượu thịt và thuốc cho những người ra trận bị thương, lại xuất tiền trong kho thưởng cho tướng sĩ, giảm các cuộc vui, thả bớt cung nữ. [[Tốc Bất Đài]] ra sức đánh Biện suốt 16 ngày, nhưng Biện Kinh thành lũy kiên cố khó phá, cuối cùng Bất Đài cũng phải lui quân. Kim sai [[Dương Cư Chân]] đem lễ vật là rượu thịt, châu báu ra khao thưởng quân Mông, [[Tốc Bất Đài]] mới cho lui về phía bắc.
 
Trước kia Bình chương chính sự Bạch Tán bị tướng sĩ oán ghét, đến khi người Mông rút đi thì quân sĩ muốn giết ông ta, Ai Tông phải hạ lệnh do 200 thân quân đến bảo vệ. Vào tháng 6 ÂL, các tướng ở Từ châu là [[Vương Hựu]], [[Trương Hưng]] ... tác loạn đuổi Hành tỉnh Đồ Đan Y Đổ đến Túc châu. Tướng Mông Quốc An Dụng thừa cơ vào Từ châu, giết bọn Vương Hựu và nắm giữ Từ châu. Sau đó Mông chủ sai [[Đường Khánh]] đến Kim thông hảo, Ông thác bệnh không gặp. Khi đến Kim đình, Đường Khánh tỏ ra vô lễ, xúc phạm Ai Tông khiến quần thần phẫn nộ, đầu mục Phi Hổ quân [[Thân Phúc]] giết chết [[Đường Khánh]], Ai Tông hạ chiếu không hỏi tội, vì thế người Mông tức giận, hòa nghị cũng tan tành<ref name="TTTTG166" />. Tướng Mông [[Quốc An Dụng]] lúc này bị Mông chủ nghi kị, chạy sang hàng Kim, được ban họ Hoàn Nhan, đổi tên Dụng An, phong Cổn vương. [[Oa Khoát Đài]] tức giận quyết định đánh tiếp xuống phía nam, nhanh chóng đến sát Biện Kinh. Lại sai sứ sang Tống đề nghị kết minh, hứa sau khi diệt Kim sẽ trả Hà Nam lại cho Trung Quốc. [[Tống Lý Tông]] cử [[Châu Thân Chi]] đến Kim, bằng lòng ra quân. Lúc này Biện Kinh đã nguy cấp, nguyên soái [[Nhiệm Thủ Chân]] đem quân cứu viện kinh thành và bị giết chết. Quân lương ít ỏi, sĩ khí sút kém, Biện Kinh tỏ ra khó giữ. Ai Tông thấy thế nên nghe kế của nội thị Bạch Hoa quyết định dời đô tránh giặc. Bèn hạ lệnh để Kinh vương Thủ Thuần trấn giữ kinh sư và tìm nơi để chạy. Quần thần cho rằng phủ Quy Đức bốn phía là sông nước, địa thế hiểm trở có thể ngăn địch nên đề nghị dời đô sang đó. Cuối cùng thì Kim chủ, lệnh Hữu thừa tướng [[Bạch Triệt]], Tả thừa [[Lý Hề]] dẫn quân hộ giá, để Tham tri chính sự [[Hoàn Nhan Nô Thân]], Xu mật phó sứ [[Tập Niết A Bất]] trấn giữ Biện Kinh. Đầu mùa đông năm [[1232]], Ai Tông từ biệt thái hậu, hoàng hậu, phi tần rồi rời khỏi Biện Kinh<ref name="TTTTG166" />. Nhưng vừa ra ngoài thành thì lại không biết nên chạy về đâu, bất giác khóc rống lên. Quần thần bàn rằng nên đi về Hà Sóc, vượt sông từ Bồ Thành.
 
Đầu năm [[1233]], thống soái Quy Đức [[Thạch Trản Nữ Lỗ Hoan]] đưa lương đến Bồ Thành và mời Ai Tông đến phủ Quy Đức, nhưng giữa đường đi thì giông tố nổi lên, sóng nước dữ dội. Lúc Ai Tông qua được bờ bắc, tướng Mông là Hồi Cổcho quân đuổi theo truy kích, tướng Kim Hạ Đức Hỉ liều chết bảo vệ rồi tử trận ở bờ nam, hơn ngàn quân Kim tử vong. Mông chủ cử Bạch Triệt đánh Vệ châu bị tướng Mông [[Sử Thiên Trạch]] đánh bại, Bạch Triệt bỏ chạy về đông, bị Ông xử tội, nhốt vào ngục. Thấy quân Mông tới gần Biện, Ai Tông cảm thấy lo lắng, nên sai người về Biện nghênh đón hoàng hậu, thái hậu, phi tần đến Quy Đức, nhưng khi họ vừa tới Trần Lưu thì thấy quân Mông đang ở đó nên phải chạy về Biện. Rủi thay ở phía tây thành, nguyên soái [[Thôi Lập]] làm phản, cùng [[Hàn Đạc]] và [[Dược An Quốc]] tác loạn, giết chết hai tể tướng [[Hoàn Nhan Nô Thân]], [[Tập Niết A Bất]] và hơn 10 người khác. Lại giả lệnh thái hậu, triệu con cố chủ Vĩnh Tế là [[Hoàn Nhan Tòng Khác]] làm giám quốc, phong tước Lương vương; còn mình tự phong làm thái sư, Thượng thư lệnh.