Khác biệt giữa các bản “Đường Văn Tông”

n
General Fixes
n (General Fixes)
Lý Hàm chào đời vào ngày [[20 tháng 11]] năm 809 dưới thời ông nội [[Đường Hiến Tông]] Lý Thuần ở ngôi. Khi đó, cha ông là [[Đường Mục Tông]] Lý Hựu vẫn đang giữ tước vị Toại vương<ref>''[[Cựu Đường thư]]'', [[:zh:s:舊唐書/卷16|quyển 16]]</ref>, chưa được phong làm hoàng thái tử<ref>Hiến Tông ban đầu lập con cả [[Lý Ninh]] làm thái tử mặc dù Lý Hựu mới là con của vợ đích, đến năm 812 Lý Ninh qua đời thì Lý Hựu mới trở thành thái tử</ref>. Ông chào đời bốn tháng sau người anh là [[Đường Kính Tông]] Lý Đam (22 tháng 7 năm đó). Mẹ Lý Hàm là Tiêu thị, người Mân, về sau được truy phong Trinh Hiến hoàng hậu<ref name=CDT17>''[[Cựu Đường thư]]'', [[:zh:s:舊唐書/卷17|quyển 17]].</ref>
 
Năm [[820]], [[Đường Hiến Tông]] mất, Lý Hựu (lúc này đã đổi tên thành Lý Hằng) lên ngôi, tức là [[Đường Mục Tông]]. Năm sau, [[821]], Mục Tông phong vương cho một số em trai và con trai của mình, trong đó Lý Hàm được phong làm Giang vương]<ref>''[[Tư trị thông giám]]'', [[:zh:s:資治通鑑/卷241|quyển 241]]</ref>. Năm [[824]], Mục Tông băng, người anh cả của Lý Hàm là Lý Đam nối ngôi, tức [[Đường Kính Tông]]]<ref>''[[Tư trị thông giám]]'', [[:zh:s:資治通鑑/卷242|quyển 242]]</ref>. Đến ngày [[9 tháng 1]] năm [[827]], Kính Tông bị bọn hoạn quan [[Lưu Khắc Minh]], [[Điền Vụ Trừng]], [[Hứa Văn Đoan]], [[Tô Tá Minh]] ... sát hại. [[Lưu Khắc Minh]] muốn khống chế triều đình và đưa con trai của [[Đường Hiến Tông]] là Giáng vương [[Lý Ngộ]] làm hoàng đế. Ngày [[10 tháng 1]], Khắc Minh giả di chiếu, đưa Giáng vương ra gặp chư tể tướng. Bọn Khắc Minh lại bố trí tay chân nắm giữ cung điện, mưu trừ các hoạn quan khác. Nhóm hoạn quan gồm Xu mật sứ [[Vương Thủ Trừng]], Trung úy [[Lương Thủ Khiêm]], [[Ngụy Tòng Gián]] ... nghe tin có biến động, bèn tập hợp binh lính tiến vào cung diệt tặc, đồng thời cho đón Lý Hàm vào cung. Cuối cùng quân Thần Sách của Vương Thủ Trừng và quân Phi Long giết chết hết bọn loạn đảng Lưu Khắc Minh, Giáng vương Ngộ cũng chết trong loạn quân<ref name=ZZTJ243>''[[Tư trị thông giám]]'', [[:zh:s:資治通鑑/卷243|quyển 243]].</ref>.
 
Ngày [[11 tháng 1]] (Quý Mão), hoạn quan lấy lệnh của Thái hoàng thái hậu Quách thị cho [[Bùi Độ]] làm nhiếp trùng tể, bách quan yết kiến Giang vương Hàm ở tử thần ngoại vũ, Giang vương bật khóc trong buổi gặp hôm đó. Ngày [[13 tháng 1]] (Quý Tị), Lý Hàm chính thức lên ngôi, tức là '''Đường Văn Tông'''.<ref name=CDT17 /><ref name=ZZTJ243 />, đổi tên là Lý Ngang. Năm đó ông mới 18 tuổi.
Văn Tông lại thấy rằng qua hai triều Mục Tông, Kính Tông, do sự xa xỉ của các hoàng đế khiến quốc khố cạn kiệt, vì thế ngay khi lên ngôi đã chủ trương tiết kiệm và tỏ ra cần mẫn trong việc xử lí công việc triều chính. Ông cho phép những cung nữ nào chưa được triệu hạnh có thể về quê với gia đình, tổng cộng được khoảng 3000 người. Thấy tân chủ mới lên ngôi đã làm những việc thuận lòng người, trong ngoài náo nức đón chờ một thời đại thái bình mới. Tuy nhiên Văn Tông mặc dù bên ngoài khuyến khích việc triều thần can gián, nhưng bản chất lại là con người thiếu quyết đoán. Mỗi khi cùng các tể tướng bàn định việc gì, cũng thường hay thay đổi ý kiến. Như tháng 4 ÂL năm 827, [[Vi Xử Hậu]] bàn luận công việc với Văn Tông ở Diên Anh Cực, nhân bất đồng ý kiến đã xin từ chức, Văn Tông không chấp nhận, cố sức giữ lại.
 
Trong những năm đầu ông lên ngôi, nạn phiên trấn tiếp tục bùng phát mạnh mẽ. Những năm cuối đời Kính Tông, Tiết độ sứ Hoành Hải<ref>[[Hà Bắc, Trung Quốc]] hiện nay</ref> [[Lý Toàn Lược]] hoăng, con là phó sứ [[Lý Đồng Tiệp]] tự ý nắm quyền ở Hoành Hải mà không có sự đồng ý của triều đình, triều đình cũng làm ngơ không hỏi đến. Sau khi Văn Tông lên ngôi, Đồng Tiệp sai hai em là Đồng Chí, Đồng Tốn đến xin nhận mệnh lệnh của nhà Đường, mong được Văn Tông công nhận. Cũng năm đó, Tiết độ sứ Trung Vũ [[Vương Phái]] hoăng, Văn Tông phong Thái bộc khanh Cao Vũ lên thay làm tiết độ sứ. Đối với trấn Hoành Hải, Văn Tông phong cho [[Ô Trọng Dận]] thay Lý Đồng Tiệp đảm nhận chức Tiết độ sứ, dời Lý Đồng Tiệp làm Duyện Hải<ref>Trụ sở thuộc Tế Ninh, Sơn Đông, Trung Quốc hiện nay</ref> tiết độ sứ. Lý Đồng Tiệp lấy cớ tướng sĩ bức ép mà kháng lại triều mệnh, tự chiếm cứ đất Thương. Triều đình bèn quyết định thảo phạt Đồng Tiệp, có chiếu tước bỏ quan chức và cử các tiết độ sứ các vùng xung quanh là [[Ô Trọng Dận]], [[Vương Trí Hưng]], [[Sử Hiến Thành]], [[Khang Chí Mục]], [[Lý Thính]], [[Trương Bá]] ... thảo phạt Lý Đồng Tiệp, nhưng không giành thắng lợi ngay được<ref name=ZZTJ243 /> mà Lý Đồng Tiệp lại được Tiết độ sứ Thành Đức<ref>Trụ sở nay thuộc Thạch Gia Trang, Hà Bắc, Trung Quốc</ref> là [[Vương Đình Thấu]] giúp đỡ. Văn Tông lại điều quân thảo phạt luôn cả trấn Thành Đức. Cuối năm đó Ô Trọng Dận hoăng, triều đình phong hoàng thân là Bảo Nghĩa tiết độ sứ Lý Hựu đến đảm nhiệm trấn Hoành Hải. Về sau quân triều đình do hoàng thân [[Lý Hựu]] chỉ huy đánh bại, Lý Đồng Tiệp đầu hàng rồi bị giết<ref name=CDT17 />. Vương Đình Thấu sợ hãi, bèn dâng Cảnh châu để cầu hòa với triều đình.
 
Mùa hạ năm [[828]], con trưởng của Kính Tông là Tấn vương [[Lý Phổ]] hoăng, thọ 4 tuổi. Văn Tông ban đầu có ý lập Lý Phổ làm thái tử, nghe tin Phổ đã chết thì thương xót, truy tặng là Điệu Hoài thái tử<ref>[[Tân Đường thư]], quyển 82</ref>. Đầu năm [[829]], tể tướng [[Vi Xử Hậu]] cũng mất<ref name=ZZTJ243 />, Hàn lâm học sĩ Lộ Tùy lên thay đảm nhận tướng vị. Sau khi triều đình diệt Lý Đồng Tiệp, Tiết độ sứ Ngụy Bác<ref>Trụ sở thuộc Hàm Đan, Hà Bắc, Trung Quốc hiện nay</ref> là [[Sử Hiến Thành]] lo sợ mình sẽ là mục tiêu tiếp theo của quân triều đình, nên thỉnh cầu vào triều và xin quy phục. Văn Tông hạ lệnh dời [[Sử Hiến Thành]] đến làm Tiết độ sứ Hà Trung<ref>Trụ sở thuộc Vận Thành, Sơn Tây, Trung Quốc hiện nay</ref> và trấn Ngụy Bác được giao cho Lý Thính, ngoài ra còn cắt ba châu Tương, Vệ, Thiền giao cho phó sứ Ngụy Bác cũ là [[Sử Hiếu Chương]]<ref name=ZZTJ244>''[[Tư trị thông giám]]'', [[:zh:s:資治通鑑/卷244|quyển 244]].</ref>. Nhưng trước khi [[Sử Hiến Thành]] rời trấn thì binh sĩ Ngụy Bác nổi dậy giết chết ông ta rồi đưa [[Hà Tiến Thao]] làm Ngụy Bác lưu hậu. Tiến Thao lại đưa quân tấn công và đánh bại Lý Thính. Triều đình vừa trải qua chiến dịch ở Hoành Hải nên không muốn tiếp tục chiến tranh, đành công nhận Hà Tiến Thao là Tiết độ sứ và trao lại ba châu Tương, Vệ, Thiền cho Tiến Thao<ref name=ZZTJ244 />.