Khác biệt giữa các bản “Phạm Thị Hoài”

n
→‎Tiểu sử: clean up, replaced: . → . using AWB
n (→‎Talawas: General Fixes)
n (→‎Tiểu sử: clean up, replaced: . → . using AWB)
Năm 1988, quyển tiểu thuyết đầu tay của bà được xuất bản tại Hà Nội với tựa đề ''Thiên sứ'' rồi sau đó quyển này bị chính quyền Việt Nam cấm lưu hành. Về sau, ''Thiên sứ'' được dịch sang [[tiếng Anh]] (The Heavenly Messenger), [[tiếng Pháp|Pháp]], [[tiếng Tây Ban Nha|Tây Ban Nha]], [[tiếng Ý|Ý]], [[tiếng Đức|Đức]] (Die Kristallbotin) và [[tiếng Phần Lan|Phần Lan]]. Năm 1993, bản dịch ''Thiên sứ'' bằng tiếng Đức đã đoạt giải "Tiểu thuyết nước ngoài hay nhất" của tổ chức [[Frankfurter LiBeraturpreis]] trao tặng hàng năm cho tiểu thuyết xuất bản tại Đức. Riêng bản dịch tiếng Anh thì đoạt giải Dinny O'Hearn cho thể loại văn học dịch vào năm 2000. Cũng trong năm này, Phạm Thị Hoài rời Việt Nam sang [[Berlin]], nơi bà đang sống và làm việc hiện nay. Ở Berlin, 2001 bà sáng lập tạp chí Talawas trên [[Internet]] có tầm ảnh hưởng lớn. Trong lời bạt bản dịch ''Thiên sứ'' của Tôn Thất Quỳnh Du, ông viết về Phạm Thị Hoài như sau:
 
"Ở Việt Nam, cách viết của Phạm Thị Hoài khiến đọc giả và những nhà phê bình hết lời ca ngợi và cũng lắm kẻ chê bai. Những viên chức văn hóa của Việt Nam phản đối cái nhìn phê phán của bà về nước Việt Nam hiện tại, bà đã vi phạm bởi sự thiếu tôn trọng truyền thống và phạm phải những điều cấm kỵ của xã hội […] Mặc dù bị công kích trên diễn đàn công khai, Phạm Thị Hoài chưa bao giờ là bị cáo về sự bất đồng quan điểm chính trị. Thay vào đó, những kẻ phỉ báng đã buộc tội bà là có cái nhìn bi quan quá đáng về Việt Nam, bà đã sỉ nhục "sứ mệnh thiêng liêng của một nhà văn", thậm chí bà còn viết "dung tục" nữa. Nhưng, ngay cả những nhà phê bình mạnh mẽ nhất cũng thừa nhận rằng bà là một nhà văn có con mắt u ám trong việc mổ xẻ chi tiết, chua cay và hài hước, song lại có thính giác tốt về nhịp điệu của tiếng Việt" .
 
Ngoài tác phẩm ''Thiên sứ'', được ca ngợi trên bình diện quốc tế, Phạm Thị Hoài còn xuất bản những tiểu luận, hai tuyển tập truyện ngắn. Đó là ''Mê Lộ'' (1989) và ''Man Nương'' (1995). Ngoài ra, bà còn một tác phẩm khác là ''Marie Sến'' (1996). Bà là một dịch giả nổi tiếng về văn chương Đức. Bà đã dịch những tác phẩm của [[Franz Kafka]], [[Bertolt Brecht]], [[Thomas Bernhard]] và [[Friedrich Dürrenmatt]] sang [[tiếng Việt]]. Bà còn là người biên soạn quyển ''Trần Dần – Ghi: 1954-1960'' (Paris, TD Mémoire, 2001), một tuyển tập các bài báo của [[Trần Dần]]. Những tiểu luận và truyện ngắn của bà xuất hiện trong những tạp chí văn chương ở [[Hoa Kỳ]], [[Úc]], [[Thụy Sĩ]] và Đức, ngoài ra còn xuất hiện trong một số tuyển tập về truyện Việt Nam đương đại, gồm có: ''Night, Again'' và ''Vietnam: A Traveler's Literary Companion''. Riêng quyển ''Sunday Menu'', một tuyển tập truyện ngắn của bà do Tôn Thất Quỳnh Du dịch sang tiếng Anh, quyển này được xuất bản lần đầu tại [[Pháp]] năm 1977 với tựa đề ''Menu de dimanche'', còn bản tiếng Anh ''Sunday Menu'' thì do Pandarus Books xuất bản tại Úc năm 2006 và được University of Hawaii Press xuất bản tại Hoa Kỳ vào năm 2007.