Khác biệt giữa các bản “Thuế thân”

* Người [[Pháp]] tiếp tục áp dụng thuế thân ở [[Việt Nam]] trước năm [[1945]]. Thuế thân dưới [[thời Pháp thuộc]] đánh vào các "suất đinh", là đàn ông từ 13 đến 53 tuổi, trừ những người làm trong bộ máy chính quyền và một số trường hợp được miễn khác. Theo thống kê vào những năm 1890, thuế thân trung bình khoảng 5 [[đồng bạc Đông Dương]]/đinh, trong khi thu nhập bình quân trên đầu người chỉ khoảng 2 đồng<!-- trong một năm ?-->
:Ngày [[2 tháng 6]] năm [[1897]] Toàn quyền Đông Dương là Paul Dumer đã ra nghị định về chính sách thuế thân đối với người dân ở Bắc Kỳ. Nội dung như sau: ''"thuế thân đánh vào người từ 18 tuổi đến 60 tuổi. Tất cả những ai trong diện đóng thuế thân đều phải có thẻ thuế thân. Trên thẻ có chữ ký hoặc điểm chỉ, có dấu triện của Lý trưởng. Mỗi nǎm thay thẻ một lần, màu sắc thẻ cũng phải thay đổi hàng nǎm. Đi đâu cũng phải mang thẻ. Trường hợp không mang thẻ mà bị cảnh sát bắt giữ thì phải nộp tiền để lấy thẻ mới. Nếu dùng thẻ của người khác phải nộp phạt. Người cho mượn thẻ cũng bị phạt."''<ref>Xem [http://www.bbc.co.uk/vietnamese/news/030603_history0206.shtml Ngược dòng lịch sử...]</ref>
 
*Dưới thể chế [[Đế quốc Việt Nam]], [[chính phủ Trần Trọng Kim]] bãi bỏ thuế thân đối với những ai không có tài sản hoặc có lợi tức dưới $100 một năm.<ref> Ngô Văn. ''Việt Nam 1920-1945, Cách mạng và Phản Cách mạng''. Montreuil, Pháp: L'Insomniaque Chuông Rè, 2000. tr 301</ref>
 
*Với sắc lệnh 11 ký ngày [[7 tháng 9]] năm [[1945]], [[Chính phủ Việt Nam|Chính phủ lâm thời Việt Nam]] đã bãi bỏ thuế thân ngay sau khi thành lập [[Việt Nam Dân chủ Cộng hoà]]. <ref>Xem [http://laws.dongnai.gov.vn/1945_to_1950/1945/194509/194509070001/lawdocument_view Sắc lệnh 11, ký ngày [[7 tháng 9]] năm [[1945]] ]</ref>