Khác biệt giữa các bản “Enver Hoxha”

n
AlphamaEditor, General Fixes
n (General Fixes)
n (AlphamaEditor, General Fixes)
 
===Quan hệ với Liên Xô===
Sau khi tuyệt giao với Nam Tư, Hoxha tự gắn kết Albania với Liên Xô, nước mà ông hết sức khâm phục. Trong giai đoạn 1948–1960, 200&nbsp; triệu Đô la Mỹ viện trợ của Liên Xô đã được trao cho Albania để mở rộng công nghệ và cơ sở hạ tầng. Ngày 22 tháng 2 năm 1949, Albania đã được tiếp nhận vào [[Hội đồng Tương trợ Kinh tế|Comecon]] và Albania trở thành một quân cờ để Liên Xô gây sức ép lên Nam Tư và cũng đóng vai trò là một thế lực thân Xô tại [[biển Adriatic]]. Một căn cứ tàu ngầm đã được xây dựng trên đảo [[Sazan]] gần [[Vlorë]], đặt ra một mối đe dọa đối với [[Đệ lục Hạm đội Hoa Kỳ|Hạm đội 6]] của Hoa Kỳ. Mối quan hệ giữa hai bên tiếp tục duy trì sự gần gũi cho đến cái chết của Stalin vào ngày 5 tháng 3 năm 1953. Albania đã tổ chức quốc tang nhằm tưởng nhớ Stalin. Hoxha tập hợp toàn bộ dân chúng tại quảng trường lớn nhất ở thủ đô, yêu cầu họ quỳ, và bắt họ thực hiện lời tuyên thệ hai nghìn từ với nội dung "trung thành vĩnh viễn" và "lòng biết ơn" với "người cha thân yêu" và "nhà giải phóng vĩ đại", đến người mà người dân nợ "mọi thứ."<ref>''The Economist'' 179 (ngày 16 tháng 6 năm 1956): 110.</ref>
 
Dưới thời [[Nikita Sergeyevich Khrushchyov|Nikita Khrushchev]], người kế nhiệm Stalin, viện trợ bị cắt giảm và Albania dược khuyến khích áp dụng chính sách chuyên môn hóa của Khrushchev. Dưới chính sách này, Albania sẽ phát triển sản xuất nông nghiệp để cung cấp cho Liên Xô và các nước khác trong [[khối Warszawa]] trong khi các nước này sẽ phát triển các ngành sản xuất đặc trưng của họ, mà về lý thuyết sẽ tăng cường khối Warszawa bằng cách giúp giảm thiếu sự thiếu hụt một số nguồn tài nguyên mà nhiều nước trong khối phải đối mặt. Tuy nhiên, điều này cũng có nghĩa rằng phát triển công nghiệp của Albania, lĩnh vực đã được Hoxha đặc biệt nhấn mạnh, sẽ bị suy giảm đáng kể.<ref>On the "socialist division of labor" see: [http://germanhistorydocs.ghi-dc.org/sub_document.cfm?document_id=1163 The International Socialist Division of Labor (ngày 7 tháng 6 năm 1962)], German History in Documents and Images.</ref>
Chính sách đối nội của Hoxha là tin tưởng vào mô hình của Stalin, và [[sùng bái cá nhân]] đã phát triển trong những năm 1970 xung quanh ông, tương tự như đối với Stalin trước đây. Đôi khi nó còn đạt đến một cường độ như việc sùng bái cá nhân [[Kim Nhật Thành]] (điều mà Hoxha lên án<ref>''[http://files.osa.ceu.hu/holdings/300/8/3/text/117-1-7.shtml RADIO FREE EUROPE Research ngày 17 tháng 12 năm 1979 quoting Hoxha's ''Reflections on China Volume II'':] "In Pyongyang, I believe that even Tito will be astonished at the proportions of the cult of his host, which has reached a level unheard of anywhere else, either in past or present times, let alone in a country which calls itself socialist."</ref>) theo đó thì Hoxha được mô tả là một thiên tài bình luận trên hầu như tất cả các mặt của đời sống từ văn hóa-kinh tế cho đến các vấn đề quân sự. Mỗi quyển sách giáo khoa được yêu cầu có một hoặc nhiều hơn các lời trích dẫn của ông về môn học được giảng dạy.<ref>Kosta Koçi, interview with James S. O'Donnell, ''A Coming of Age: Albania under Enver Hoxha'', Tape recording, Tirana, ngày 12 tháng 4 năm 1994.</ref> Đảng Lao động Albania vinh danh ông với các danh hiệu như Đồng chí Tối cao hay Nhà giáo vĩ đại.
 
Sự cai quản của Hoxha cũng có sự nổi bật khi ông khuyến khích một tỉ lệ sinh cao. Ví dụ một người phụ nữ có số con trên mức trung bình sẽ nhận được phần thường ''Người mẹ Heroine'' (''Nënë Heroinë'') của chính phủ cùng với tiền thưởng.<ref>[http://www.medals.org.uk/albania/albania-pr/albania-pr021.htm Medals of the World]</ref> [[Nạo phá thai|Phá thai]] về cơ bản bị chính quyền hạn chế (để khuyến khích mức sinh cao) trừ khi việc đứa bé ra đời gây nguy hại đến tính mạng của người mẹ, mặc dù nó cũng không bị cấm hoàn toàn; cách giải quyết sẽ do các hội đồng y tế khu vực quyết định.<ref>William Ash. ''Pickaxe and Rifle: The Story of the Albanian People''. London: Howard Baker Press Ltd. 1974. p. 238.</ref><ref>[http://www.un.org/esa/population/publications/abortion/doc/albani1.doc Albania – ABORTION POLICY – United Nations]</ref> Do vậy, dân số Albania đã tăng từ 1 triệu người vào năm 1944 lên khoảng 3&nbsp; triệu người vào năm 1985.
 
=== Quan hệ với Trung Quốc===
Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 3 của Albania, Trung Quốc đã hứa hẹn về một khoản vay trị giá 125&nbsp; triệu Đô la Mỹ để Albania xây dựng 25 nhà máy hóa chất, điện và luyện kim được đề cập đến trong Kế hoạch. Tuy nhiên, quốc gia này đã có một giai đoạn chuyển tiếp khó khăn, do các kỹ thuật viên Trung Quốc có chất lượng thấp hơn các kỹ thuật viên Liên Xô và khoảng cách địa lý giữa hai quốc gia, cộng với các mối quan hệ tồi giữa Albania và các nước láng giềng, các vấn đề trở nên phức tạp hơn. Không giống như Nam Tư hay Liên Xô, Trung Quốc đã có ảnh hưởng rất nhỏ trên phương diện kinh tế đối với Albania dưới thời Hoxha. 15 năm trước đó (1946–1961), có ít nhất 50% kinh tế Albania dựa trên thương mại nước ngoài.<ref>Elez Biberaj, ''Albania and China'' (Boulder: Westview Press, 1986), 40.</ref>
 
Do Hiến pháp 1976 nghiêm cấm nợ, viện trợ và đầu tư nước ngoài, Albania về cơ bản trở thành nước [[tự cung tự cấp]], bất chấp việc nước này thiếu các công nghệ hiện đại. Về mặt ý thức hệ, Hoxha nhận thấy quan điểm ban đầu của [[Mao Trạch Đông]] phù hợp với [[chủ nghĩa Marx-Lenin]]. Mao Trạch Đông lên án chủ nghĩa [[xét lại (chủ nghĩa Marx)|xét lại]] của [[Nikita Sergeyevich Khrushchyov|Nikita Khrushchev]] và đồng thời cũng chỉ trích Nam Tư. Viện trợ đến từ Trung Quốc không tính lãi và không phải hoàn trả cho đến khi Albania có đủ khả năng để làm như vậy.<ref name="Hamm, 45">Hamm, 45.</ref>
}}
 
Để đáp trả, Albania đã phát triển thương mại với khối [[Hội đồng Tương trợ Kinh tế|Comecon]] (riêng thương mại với Liên Xô vẫn bị ngăn chặn) và Nam Tư. Thương mại với các nước [[Thế giới thứ ba]] đã đạt 0,5&nbsp; triệu Đô la Mỹ vào năm 1973, song đã tăng lên 8,3&nbsp; triệu Đô la Mỹ vào năm 1974. Thương mại đã tăng từ 0,1% đến 1.,6%.<ref>Biberaj, 98.99.</ref> Sau cái chết của Mao Trạch Đông vào ngày 9 tháng 9 năm 1976, Hoxha vẫn lạc quan về quan hệ Trung Quốc-Albania, song đến tháng 8 năm 1977, [[Hoa Quốc Phong]], nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc, đã nói rằng [[Thuyết thế giới thứ ba]] của Mao Trạch Đông sẽ trở thành chính sách đối ngoại chính thức. Hoxha nhìn nhận điều này là một cách để Trung Quốc biện minh cho việc coi Hoa Kỳ là "kẻ thù thứ hai" trong khi xem Liên Xô là kẻ thù chính, do đó cho phép Trung Quốc có quan hệ thương mại với Hoa Kỳ. "...kế hoạch 'thế giới thứ ba' của Trung Quốc là một kế hoạch ma quỷ lớn, với mục tiêu để Trung Quốc trở thành một siêu cường khác, chính xác là bằng cách đưa nó trở thành nước đứng đầu trong 'thế giới thứ ba' và 'thế giới không liên kết.'"<ref>Enver Hoxha, ''Reflections on China,'' vol. 2: (Toronto: Norman Bethune Institute, 1979), 656.</ref> Từ ngày 30 tháng 8 đến 7 tháng 9 năm 1977, Tito đã đến thăm [[Bắc Kinh]] và được giới lãnh đạo Trung Quốc chào đón. Tại thời điểm này, Đảng Lao động Albania đã tuyên bố rằng Trung Quốc nay là một nhà nước xét lại giống như Liên Xô và Nam Tư, và rằng Albania và là nhà nước Marxist-Leninist duy nhất trên Trái Đất. Ngày 13 tháng 7 năm 1978, Trung Quốc thông báo rằng nước này chính thức cắt viện trợ cho Albania. Lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, Albania không có một đồng minh nào.
 
===Nhân quyền===
}}
 
Albania đã rất nghèo nàn và lạc hậu theo các tiêu chuẩn châu Âu và nước này có mức sống thấp nhất tại châu lục.<ref>[http://books.google.ca/books?id=67Hoe3h5XqsC&dq=albanian+economy&printsec=frontcover&source=bl&ots=pTJ_jNe9cA&sig=pyLPZS2J4IbATR3DyAmCjWbqrss&hl=en&ei=k7MESoSLKI-eMsPxuNME&sa=X&oi=book_result&ct=result&resnum=1 ''On Eagle's Wings: The Albanian Economy in Transition'', p. vii]</ref> Do kết quả của một nền kinh tế tự cung tự cấp, Albania có nợ nước ngoài ở mức tối thiểu. Năm 1983, Albania nhập khẩu lượng hàng hóa trị giá 280&nbsp; triệu Đô la Mỹ song xuất khẩu lượng hàng hóa trị giá 290&nbsp; triệu Đô la Mỹ, thăng dư thương mại 10&nbsp; triệu Đô la Mỹ.<ref>The Directorate of the Intelligence of the Central Intelligence Agency, ''[[The World Factbook]]'' (Washington: [[Government Printing Office]], 1986), 3.</ref>
 
Năm 1981, Hoxha đã ra lệnh xử tử một số quan chức trong đảng và chính phủ trong một cuộc thanh trừng mới. Thủ tướng [[Mehmet Shehu]] được tường thuật là đã tự sát vào tháng 12 năm 1981 và sau đó bị lên án như là một "kẻ phản bội" đối với Albania và ông ta cũng bị cáo buộc phục vụ cho nhiều cơ quan tình báo. Dư luận phổ biến tin rằng ông ta đã bị giết chết hoặc tự bắn vào mình trong một cuộc đấu tranh quyền lực hoặc do khác biệt trong chính sách đối ngoại với Hoxha.<ref>O'Donnell, pp. 198–201. Vickers, pp. 207–208. Jacques, pp. 510–512.</ref> Hoxha cũng viết một lượng lớn các cuốn sách trong giai đoạn này, kết quả là 65 tập tác phẩm sưu tầm, cô đặc lại thành sáu tuyển tập.<ref>[http://www.nytimes.com/1987/10/18/books/the-truest-believer.html?sec=&spon= NYtimes.com] "Hoxha, who died in 1985, was one of the most verbose statesmen of modern times and pressed more than 50 volumes of opinions, diaries and dogma on his long-suffering people, the poorest in Europe."</ref>
 
Sau đó, Hoxha bán nghỉ hưu do sức khỏe yếu, ông đã từng bị một cơn đau tim vào năm 1973 và từ đó ông đã không bao giờ hoàn toàn hồi phục. Ông trao lại hầu hết trách nhiệm của mình cho [[Ramiz Alia]]. Trong những ngày cuối cùng của mình, ông phải sử dụng xe lăn và đau đớn vì bệnh tiểu đường, căn bệnh mà ông đã phải chịu đựng kể từ năm 1948, và bệnh [[thiếu máu não]], căn bệnh ông phải chịu đựng từ năm 1983.<ref>Jacques, p. 520. "... there was a detailed medical report by a distinguished medical team. Enver Hoxha had suffered since 1948 with diabetes which gradually caused widespread damage to the blood vessels, heart, kidneys and certain other organs. In 1973 as a consequence of this damage a myocardial infarction occurred with rhythmic irregularity. During the following years a serious heart disorder developed. On the morning of ngày 9 tháng 4 năm 1985, an unexpected ventricular fibrillation occurred. Despite intensive medication, repeated fibrillation and its irreversible consequences in the brain and kidneys caused death at 2:15&nbsp; am on ngày 11 tháng 4 năm 1985."</ref>
 
Hoxha qua đời vào ngày 11 tháng 4 năm 1985, để lại cho Albania một di sản cô lập và nỗi sợ hãi với thế giới bên ngoài. Mặc dù có một số tiến bộ về kinh tế dưới thời Hoxha,<ref>O'Donnell, ''A Coming of Age'', p. 186. "On the positive side, an objective analysis must conclude that Enver Hoxha's plan to mobilize all of Albania's resources under the regimentation of a central plan was effective and quite successful... Albania was a tribal society, not necessarily primitive but certainly less developed than most. It had no industrial or working class tradition and no experience using modern production techniques. Thus, the results achieved, especially during the phases of initial planning and construction of the economic base were both impressive and positive."</ref> Albania trong tình trạng [[đình đốn kinh tế]]; đây là đất nước nghèo nhất châu Âu trong phần lớn thời gian [[Chiến tranh Lạnh]]. Sau khi Albania chuyển đổi sang thể chế dân chủ vào năm 1992, các di sản của Hoxha đã giảm bớt, và nay còn tồn tại rất ít ở Albania.
 
==Nỗ lực ám sát==
'''Banda Mustafaj''' là một nhóm gồm 4 người Albania lưu vong do Xhevdet Mustafa lãnh đạo, họ muốn ám sát Enver Hoxha vào năm 1982. Kế hoạch thất bại và hai thành viên trong nhóm bị giết còn một bị bắt giữ.<ref>http://www.shqiperia.com/lajme/lajm/nr/9174/Zbulohen-dokumentet-e-CIA-s-dhe-FBI-se-per-Xhevdet-Mustafen</ref><ref>{{chú thích web | url = http://www.zeriikosoves.org/index.php?option=com_content&view=article&id=842:zbuluesi-ushtarak-xhevdet-mustafa-do-vendoste-monarkine&catid=27:dossier&Itemid=31 | tiêu đề = Zëri i Kosovës | author = | ngày = | ngày truy cập = 19 tháng 2 năm 2015 | nơi xuất bản = | ngôn ngữ = }}</ref> Đây được xem là nỗ lực thực sự duy nhất nhằm sát hại Hoxha.<ref>http://lajme4.shqiperia.com/lajme/artikull/iden/1047107151/titulli/Xhevdet-Mustafa-sot-29-vite-nga-zbarkimi-ne-Divjake-zbulohet-biseda-me-kunatin-e-Hazbiut</ref><ref>http://lajme4.shqiperia.com/lajme/artikull/iden/1047086512/titulli/Rrefimi-i-Halit-Bajramit-Une-njeriu-i--Hazbiut-ne--banden-e-Xhevdet-Mustafes</ref>
 
==Tham khảo==
[[Thể loại:Sinh viên Đại học Paris]]
[[Thể loại:Áp bức tôn giáo]]
[[Thể loại:Sinh 1908]]
[[Thể loại:Mất 1985]]