Khác biệt giữa các bản “Kim Ai Tông”

không có tóm lược sửa đổi
n (clean up, replaced: . → . (3), sinh mẫu → mẹ đẻ using AWB)
Lúc này triều Kim phát động chiến tranh với triều Tống ở phía nam. Vào cuối năm [[1218]], Tuyên Tông dùng thái tử làm Nguyên soái đích thân dẫn quân đánh Tống, cùng [[Bộc Tán An Trinh]] làm Phó soái. Đầu năm 1219, quân Kim đánh vào các châu Tây, Hòa, Thành, Phượng và trại Hoàng Ngưu, lấy Vũ Hưu quan, phá phủ Hưng Nguyên, vây Đại An, tướng Tống Ngô Chính chết trận. Sau đó người Kim chiếm được Đại An tiến thẳng vào chiếm được Dương châu, Đổng Cư Nghị bỏ trốn. Đô thống chế [[Trương Uy]] sai tướng Thạch Tuyên đem quân ra chống, giành thắng lợi, giết hơn 3000 quân Kim, bắt sống tướng Kim Ba Đồ Lỗ An. Thái tử lại sai [[Hoàn Nhan Ngoa]] vây đánh Tảo Dương. [[Mạnh Tông Chính]] là tướng giữ thành này đã cho báo về triều đình, Kinh Hồ chế trí sứ [[Triệu Phương]] cử [[Hỗ Tái Hưng]] đem hơn 3 vạn binh tiến đánh hai châu Đường, Đặng cả Kim để kéo quân Kim về cứu<ref>''[[Tục tư trị thông giám]]'', [[:zh:s::續資治通鑑/卷161|quyển 161]]</ref>, nhưng Bộc Tán An Trinh không cứu Đường, Đặng mà tiếp tục vây đánh An Phong quân cùng các châu Trừ, Hào, Quang. Các tướng Tống [[Vũ Sư Đạo]], [[Trần Hiếu Trung]] đến cứu nhưng không được. Sau đó An Trinh phân binh từ Quang châu đánh Ma Thành, từ Hào châu xâm Thạch Thích, từ Hu Dị lất Toàn Tiêu, Lai An, Thiên Trường, Lục Hợp. Dân chúng ở Hoài Nam lũ lượt kéo nhau vượt sông Trường Giang bỏ trốn, cả thành Kiến Khang chấn động. Lúc đó, Hoài Đông đề hình [[Giả Thiệp]] nắm quyền ở Sở châu, sai [[Trần Hiếu Trung]] cứu Từ châu, [[Hạ Toàn]], [[Thời Thanh]] cứu Hào châu; [[Lý Tiên]], [[Cát Bình]], [[Dương Đức Quảng]] đến Từ Hào; [[Lý Toàn]], [[Lý Phúc]] được lệnh chặn đường rút lui của người Kim. [[Lý Toàn]] tiến quân Qua Khẩu giao chiến với tướng Kim [[Ngột Thạch Liệt Nha Ngô Đáp]] ở Hóa Hồ bi. Quân Kim bị tổn thất 3000 người, mất kim bài, Hoàn Nhan Thủ Tự đành phải rút quân về nước.
 
== Lên ngôiLàm hoàng đế ==
=== Lên ngôi ===
 
Những năm cuối triều đại Tuyên Tông, triều chính nước Kim có một chút khởi sắc so với trước kia, quân Kim tuy vẫn thất thế nhưng đã có thể thu lại được một số đất đai bị cướp mất.
 
Tháng 12 ÂL năm [[1223]], [[Kim Tuyên Tông]] lâm bệnh. Vào đêm Canh Dần, bệnh tình của Tuyên Tông trở nặng, các cận thần đều không thấy bóng dáng, duy chỉ có Tư Minh phu nhân Trịnh thị của tiền triều (Vệ vương Vĩnh Tế). Tuyên Tông biết mình không sống được nữa, nên nhờ Trịnh thị cấp tốc triệu thái tử đến và cử hành hậu sự. Nói xong thì Tuyên Tông qua đời, hưởng thọ 61 tuổi<ref name="TTTTG162">''[[Tục tư trị thông giám]]'', [[:zh:s::續資治通鑑/卷162|quyển 162]].</ref>. Trịnh phu nhân chưa báo việc. Vào giữa đêm đó, hoàng hậu và quý phi Bàng thị đến cung thỉnh an (hai người vẫn chưa biết rằng vua Kim đã chết). Bàng thị tính tình giải hoạt, cho rằng người con của mình là Anh vương [[Hoàn Nhan Thủ Thuần]] tuổi lớn hơn thái tử mà không được lập, đã luôn mang hận trong lòng, nay thấy Tuyên Tông bệnh nặng nên tìm cách phế Thủ Tự, lập Thủ Thuần. Trịnh thị biết việc đó, lo sợ có biến, nên ngăn trở không cho các hậu phi vào gặp long nhan. Sau đó lập tức triệu đại thần, tuyên di chiếu lập hoàng thái tử Thủ Tự làm đế và bắt đầu phát tang. Lúc thái tử vào cung thì đã thấy Thủ Thuần ở đó, ông đoán được rằng Bàng quý phi đã có hành động gì nên quyết định tìm cách đối phó. Sai các quan ở Xu mật viện cùng thân vệ quân đông cung
có hơn 3 vạn người đóng ở Đông Hoa môn, đồng thời mệnh bốn người hộ vệ giam giữ Thủ Thuần lại. Sau đó ông cho tuyên di chiếu, tức vị trước cữu tiền, tức là '''Kim Ai Tông ''', cải nguyên là Chánh Đại<ref name="TTTTG162" />.
 
=== Trị vì thời kì đầu ===
 
Không lâu sau khi lên ngôi, Ai Tông hạ chiếu đại xá trong nước và bắt tay vào công cuộc phục hưng. Vào đầu năm ÂL [[1224]], Bí thư giám, Lại bộ thị lang [[Bồ Sát Hợp Trụ]] cùng Tả tư viện ngoại lang Nê Bàng Cổ Hoa Sơn (những người nắm nhiều quyền lực và làm nhiều việc ác dưới thời Tuyên Tông) bị Ai Tông nghi ngờ và cách chức lưu đày đến Hằng và Trinh châu. Việc hai gian thần bị biếm chức khiến sĩ đại phu đều phấn khích. Mấy hôm sau, Ai Tông bàn định với quần thần phương sách khôi phục phủ Hà Trung vừa bị mất vào tay [[Mông Cổ]]; các đại thần [[Triệu Bỉnh Văn]], [[Dương Vân Dực]] cho rằng tình hình [[Thiểm Tây]] chưa yên nên sự việc bị đình chỉ. Tôn hoàng hậu Ôn Đôn thị và Nguyên phi Ôn Đôn thị đều là hoàng thái hậu, trong đó hoàng hậu Ôn Đôn thị sống ở cung Nhân Thánh còn mẹ đẻ của vua Kim sống ở cung Từ Thánh<ref name="TTTTG162" />. Ai Tông lại dùng [[Lý Hề]] làm Thái thường khanh, quyền Tham tri chính sự và bãi chức của hoàng huynh Anh vương Thủ Thuần, đổi làm Kinh vương, đưa đến phủ Mục Thân<ref name=KS17 />.
Tháng 5 ÂL, dùng Xu mật phó sứ [[Hoàn Nhan Tái Bất]] làm Bình chương chính sự, Thạch Trản Úy Hãn làm thượng thư hữu thừa, [[Lý Hề]] kiêm quyền tham chính. Lúc trước kia quần thần liên danh xin lập hậu, Ai Tông lấy việc tang sự mà từ chối. Tháng 6 ÂL năm đó, mới sắc phong phi Đồ Đan thị làm hoàng hậu. Đồng thời ông cho chấm dứt cuộc chiến tranh kéo dài 6 năm với triều Tống vốn gặp nhiều bất lợi, sai sứ đến phía nam bàn việc thông hảo, bỏ việc nam xâm.
 
=== SựKháng xâm lược củacự Mông Cổ ===
 
Đầu năm [[1224]], thứ sử [[Bồ Sát Hợp Trụ]] phạm pháp và bị giết chết.<ref name=KS17 />. Khi đó Hạ chủ [[Lý Tuân Húc]] sau nhiều năm chiến tranh liên miên với Kim, đã sai sứ đến bàn việc giảng hòa. Khi đó thế lực của Kim đã suy yếu nên phải chấp nhận hòa đàm với Hạ, đồng ý cho Hạ chủ xưng em thay vì xưng thần như trước. Tháng 9 ÂL năm [[1224]], Hạ - Kim kí kết hòa nghị, xưng nước anh nước em. Tháng 10 ÂL cùng năm, Ai Tông lấy việc lập lại hòa bình với Hạ, bố cáo trong ngoài. Trước đó vào tháng 8 ÂL, tướng [[Điền Thụy]] ở Củng châu nổi dậy làm phản và bị Kim đình đánh bại, giết chết.
Năm [[1229]], người Mông tôn con thứ ba của Thái Tổ [[Thiết Mộc Chân]] là [[Oa Khoát Đài]] lên làm Đại Hãn<ref name="TTTTG164" />. Cuối năm này Ai Tông sai sứ sang Mông nghị hòa. Mông chủ [[Oa Khoát Đài]] không cho và còn quyết định đem quân phạt Kim. Tháng 10 ÂL năm này, quân Mông tấn công Khánh Dương của Kim. Kim sai người đến dâng lễ vật xin bãi binh nghị hòa, Mông chủ không cho; Ai Tông phải cử Y Lạt Bố Cáp cầm quân giải vây Khánh Dương nhưng thua trận, các thành lũy ở phía nam Hoàng Hà của Kim như Kinh Triệu, Vệ châu bị mất. Năm [[1230]], [[Oa Khoát Đài]] cùng em là [[Đà Lôi]] đích thân đưa quân nam hạ, cả Quan Trung chấn động. Quân Mông tiến tới Thiểm Tây, đóng hơn 60 trại dưới chân núi, uy hiếp đến Phượng Tường, Thiểm Tây bị uy hiếp nặng nề. Nhưng ở mặt trận Đồng Quan, Lam Quan thì quân Mông lại gặp thất lợi, nên sai sứ đến Tống bàn việc hợp binh đánh Kim, nhưng do triều Tống ban đầu cự tuyệt nên Mông - Tống xảy ra xung đột ít lâu, quân Mông tiến vào đất Tống. Nhưng không được bao lâu thì Mông Chủ triệu [[Đà Lôi]] về đánh Nhiêu Phong quan. Cuối năm [[1231]], quân Mông Cổ tấn công Hà Trung, đến tháng 8 ÂL thì thành bị phá. Mông chủ đánh Nhiêu Phong quan tiến thẳng Biện Kinh<ref name="TTTTG165">''[[Tục tư trị thông giám]]'', [[:zh:s::續資治通鑑/卷165|quyển 165]].</ref>. Ai Tông thất kinh, triệu chư tướng vào triều bàn việc phòng thủ, rồi chia quân đóng đồn ở Tương, Đặng: [[Hoàn Nhan Hợp Đạt]] và [[Y Lý Bố Cáp]] đóng ở Đặng châu, [[Hoàn Nhan Di]], [[Dương Ốc Diễn]], [[Trần Hòa Thượng]] dẫn quân hội hợp ở Thuận Dương. Quân Mông Cổ nhanh chóng vượt Hán Giang, quân của [[Hoàn Nhan Hợp Đạt]] bị thua trận, nhưng may thay có bộ tướng [[Bồ Sát Đình Trụ]] liều chết chống địch nên quân Mông phải rút lui<ref name="TTTTG165" />. Nhưng Hợp Đạt sau đó lại dẫn quân lui về Đặng châu, quân Mông đuổi theo, Hợp Đạt và Bố Cáp bị quân Mông đánh bại nhưng giấu việc này đi nói bại thành thắng. Quần thần nước Kim trở nên phấn chấn, mở tiệc tượu chúc mừng.
 
=== VứtChiến bỏsự Biệnbất Kinhlợi ===
 
Đầu năm [[1232]], Ông cải niên hiệu là Khai Hưng, đến tháng 4 cải nguyên Thiên Hưng. Không bao lâu sau, quân [[Mông Cổ]] lại từ Đường châu tiến đến Biện Kinh. Nguyên soái nước Kim [[Hoàn Nhan Lưỡng Lạc]] thua trận Tương Thành, chạy thẳng về Biện. Ai Tông hạ lệnh quần thần đến bàn bạc rồi quyết định tuyển mộ đinh tráng bảo vệ kinh thành, lại sai Qua Nhĩ Giai Tát Cáp dẫn 3 vạn quan tuần tra vùng phía nam Hoàng Hà... Quân Mông Cổ từ huyện Hà Thanh vượt sông, tiến đến Trịnh châu. Mông chủ sai [[Tốc Bất Đài]] tiến quân vào Biện<ref name="TTTTG166">''[[Tục tư trị thông giám]]'', [[:zh:s:續資治通鑑/卷166|quyển 166]].</ref>. Ai Tông cử [[Hoàn Nhan Hợp Đạt]], [[Y Lý Bố Cáp]] từ Đặng châu đưa quân cứu việc kinh thành, nhưng lại gặp [[Đà Lôi]] cùng 3000 quân kị đánh từ phía sau, lại có thêm mưa to tuyết lớn khiến cánh quân Đặng châu không thể tiến nhanh về kinh thành. Đến lúc tuyết tan, Hợp Đạt mới cho quân tiến nhanh hơn. Nhưng khi quân cứu viện vừa đến núi Tam Phong thì quân Mông Cổ từ đâu ùa tới chặn đánh, bao vây quân Kim suốt ba ngày, quân Kim đại bại. Các tướng Kim [[Dương Ốc Diễn]], [[Phàn Trạch]], [[Trương Huệ]] tử trận, [[Hoàn Nhan Hợp Đạt]] bỏ chạy về Quân châu<ref name="TTTTG166" />. Mông chủ hạ lệnh đánh sang cả Quân châu và phá thành, giết chết [[Hoàn Nhan Hợp Đạt]], [[Y Lý Bố Cáp]] cũng bị bắt giết trên đường bỏ trốn về Biện, nước Kim tướng giỏi đã mất gần hết, từ đó không còn có thể vực dậy được nữa.
 
Đến tháng 3 ÂL, quân Mông lại kéo pháo tới bao vây Lạc Dương<ref name="TTTTG166" />. Tướng giữ Lạc Dương Triệt Hợp mắc bệnh ung thư qua đời, người trong thành đưa Cường Thân làm chủ huy, kiên trì cố thủ, người Mông đánh suốt ba tháng không được. Lúc này Mông Cổ chủ muốn về nước, lệnh [[Hoàn Nhan Hợp Đạt]] đánh Biện gây sức ép và buộc Ai Tông phải nhanh chóng hàng phục. Ông phong cho con trai Kinh vương Thủ Thuần là [[Hoàn Nhan Ngoa Khả]] là Tào vương cùng Thượng thư Tả thừa Lý Hề, Gián nghị đại phu [[Bùi Mãn A Hổ Đái]], Thái phủ giám quốc Thế Vinh cùng đến Trịnh châu dâng thư xưng cháu, nộp lễ vật nghị hòa, lấy [[Dương Tháo]] làm Quyèn Tham tri chính sự. Nhưng [[Tốc Bất Đài]] không đồng tình, cho giữ Tào vương lại, thả Lý Hề về và ra sức đánh Biện, Ai Tông phải ra khỏi Thừa Thiên Môn đến cửa tây gặp tướng sĩ, Thiên hộ Lưu Thọ nói lời không cung kính, Ai Tông có chiếu bỏ qua không hỏi đến. Mấy hôm sau lại đến cửa đông gặp tướng sĩ, ban rượu thịt và thuốc cho những người ra trận bị thương, lại xuất tiền trong kho thưởng cho tướng sĩ, giảm các cuộc vui, thả bớt cung nữ. [[Tốc Bất Đài]] ra sức đánh Biện suốt 16 ngày, nhưng Biện Kinh thành lũy kiên cố khó phá, cuối cùng Bất Đài cũng phải lui quân. Kim sai [[Dương Cư Chân]] đem lễ vật là rượu thịt, châu báu ra khao thưởng quân Mông, [[Tốc Bất Đài]] mới cho lui về phía bắc.
 
=== Vứt Biện Kinh đào tẩu ===
 
Trước kia Bình chương chính sự Bạch Tán bị tướng sĩ oán ghét, đến khi người Mông rút đi thì quân sĩ muốn giết ông ta, Ai Tông phải hạ lệnh do 200 thân quân đến bảo vệ. Vào tháng 6 ÂL, các tướng ở Từ châu là [[Vương Hựu]], [[Trương Hưng]]... tác loạn đuổi Hành tỉnh Đồ Đan Y Đổ đến Túc châu. Tướng Mông Quốc An Dụng thừa cơ vào Từ châu, giết bọn Vương Hựu và nắm giữ Từ châu. Sau đó Mông chủ sai [[Đường Khánh]] đến Kim thông hảo, Ông thác bệnh không gặp. Khi đến Kim đình, Đường Khánh tỏ ra vô lễ, xúc phạm Ai Tông khiến quần thần phẫn nộ, đầu mục Phi Hổ quân [[Thân Phúc]] giết chết [[Đường Khánh]], Ai Tông hạ chiếu không hỏi tội, vì thế người Mông tức giận, hòa nghị cũng tan tành<ref name="TTTTG166" />. Tướng Mông [[Quốc An Dụng]] lúc này bị Mông chủ nghi kị, chạy sang hàng Kim, được ban họ Hoàn Nhan, đổi tên Dụng An, phong Cổn vương. [[Oa Khoát Đài]] tức giận quyết định đánh tiếp xuống phía nam, nhanh chóng đến sát Biện Kinh. Lại sai sứ sang Tống đề nghị kết minh, hứa sau khi diệt Kim sẽ trả Hà Nam lại cho Trung Quốc. [[Tống Lý Tông]] cử [[Châu Thân Chi]] đến Kim, bằng lòng ra quân. Lúc này Biện Kinh đã nguy cấp, nguyên soái [[Nhiệm Thủ Chân]] đem quân cứu viện kinh thành và bị giết chết. Quân lương ít ỏi, sĩ khí sút kém, Biện Kinh tỏ ra khó giữ. Ai Tông thấy thế nên nghe kế của nội thị Bạch Hoa quyết định dời đô tránh giặc. Bèn hạ lệnh để Kinh vương Thủ Thuần trấn giữ kinh sư và tìm nơi để chạy. Quần thần cho rằng phủ Quy Đức bốn phía là sông nước, địa thế hiểm trở có thể ngăn địch nên đề nghị dời đô sang đó. Cuối cùng thì Kim chủ, lệnh Hữu thừa tướng [[Bạch Triệt]], Tả thừa [[Lý Hề]] dẫn quân hộ giá, để Tham tri chính sự [[Hoàn Nhan Nô Thân]], Xu mật phó sứ [[Tập Niết A Bất]] trấn giữ Biện Kinh. Đầu mùa đông năm [[1232]], Ai Tông từ biệt thái hậu, hoàng hậu, phi tần rồi rời khỏi Biện Kinh<ref name="TTTTG166" />. Nhưng vừa ra ngoài thành thì lại không biết nên chạy về đâu, bất giác khóc rống lên. Quần thần bàn rằng nên đi về Hà Sóc, vượt sông từ Bồ Thành.
Tướng Mông [[Tốc Bất Đài]] tiến quân đến Thanh Thành. Tháng 4 ÂL năm [[1233]], [[Thôi Lập]] áo mũ chỉnh tề đến gặp Bất Đài, gọi ông ta là cha, mở tiệc khoản đải và dâng cổn miện của thiên tử cho người Mông. Lại đưa thái hậu, hoàng hậu và thân quyến nước Kim khoảng 50 người giao tất tần tật cho quân Mông. Tốc Bất Đài cho giết hai vương Lương, Kinh cùng gia quyến, đưa thái hậu, hoàng hậu, phi tần giải cả về Hòa Lâm (kinh đô Mông Cổ), sai nhũ mẫu của Ai Tông đến Quy Đức chiêu hàng<ref name="TTTTG167">''[[Tục tư trị thông giám]]'', [[:zh:s:續資治通鑑/卷167|quyển 167]].</ref>, sau đó tiến chiếm Biện Kinh. Các thành trì khác của Kim cũng lần lượt hàng Mông.
 
=== TháiNội châuloạn vong quốcnam thiên ===
 
{{Bài chính|Trận Thái châu (1233-1234}}
Ai Tông bị [[Bồ Sát Quan Nô]] cấm cố lấy làm phẫn nộ, liền liên hệ với nội thị [[Tống Khuê]], Phụng ngự nữ [[Hề Liệt Hoàn Xuất]], [[Ô Cổ Tôn Ái Thực]] cùng nhau diệt tặc và chuyển đến Thái châu. Lúc đó Thái, Trần, Tức, Dĩnh đẳng châu tiện nghi tổng soái [[Ô Khố Lý Hạo]] vận chuyển 400 đấu mì đến Quy Đức cũng khuyên Ai Tông về nam. Tháng 6 ÂL năm đó, [[Bồ Sát Quan Nô]] từ Bạch châu về Quy Đức can ngăn không cho Ai Tông về nam, lại nói với bộ chúng
:''Ai còn bàn chuyện nam thiên thì sẽ chém''.
Tống đình không nghe<ref name="TTTTG167" />. Lúc đó Ma Tông ở Từ châu cũng đã hàng Mông Cổ. Tháp Tề Nhi thấy quân Tống đến giúp liền tăng cường chuẩn bị công cụ, tiếng chẻ gỗ vọng vào thành, người trong thành khiếp sợ, bàn nhau ra hàng. Thượng thư hữu thừa Hoàn Nhan Trọng Đức cả ngày không về doanh trại, đứng ngoài trời ra sức khuyên nhủ quân dân, khiến cho lòng người phấn chấn trở lại, quyết tâm giữ thành.
 
=== Nhường ngôi và mất nước ===
{{Bài chính|Trận Thái châu (1233-1234}}
Tháng 9 ÂL Tháp Sát Nhi đêm mấy trăm kỵ binh lập trại ở phía đông thành, lại bị quân Kim đẩy lui. Từ đây quân Mông Cổ không tấn công, mà chia ra đắp lũy vây khốn. Tháng 11 ÂL, do trong thành Thái châu thiếu hụt dân đinh, phải dùng cả những phụ nữ khỏe mạnh vận chuyển gỗ đá, Ai Tông đích thân phủ dụ bọn họ. Quân Kim từ cửa đông ra đánh, [[Mạnh Củng]] chặn đường lui của họ, thu hàng tất cả, dò hỏi được tình hình đói kém trong thành. Củng đề nghị giữ chắc vòng vây, đề phòng quân Kim quẫn bách xông ra; hẹn với Tháp Tề Nhi chia 2 mặt nam – bắc đánh thành, không xâm phạm lẫn nhau. [[Tháp Sát Nhi]] sai Trương Nhu đưa 5000 quân trèo lên thành, Nhu bị tên bắn trúng chi chít như lông nhím, Củng sai bộ tướng đưa quân giúp cứu Nhu ra<ref name="TTTTG167" />.
 
 
Lễ tôn thụy vừa xong thì liên quân đánh vào, [[Hoàn Nhan Thừa Lân]] chết trong loạn quân<ref name="TTTTG167" />. [[Hoàn Nhan Phong Sơn]] theo di chiếu đã cho hỏa thiêu di hài Kim chủ. Tướng Tống Giang Hải vào cung bắt được tham chính [[Trương Thiên Cương]]. [[Mạnh Củng]] vào hỏi nơi ở của Ai Tông thì mới biết Ai Tông đã chết. [[Mạnh Củng]] cho quân dập lửa và nhìn thấy thi hài khô đét của Kim chủ. Rồi cùng [[Tháp Sát Nhi]] đem hài cốt Ai Tông và vàng bạc châu báu của Kim chia làm hai, mỗi bên lấy một, lấy tây bắc Trần Thái làm ranh giới, bắc thuộc Mông, nam thuộc Tống. Nước Kim diệt vong. Tháng 4 ÂL, [[Trương Thiên Cương]] cùng phần thi hài Ai Tông bị đưa về Tống. Tri Lâm An phủ [[Tiết Quỳnh]] vấn tội Thiên Cương, Thiên Cương tỏ ra bất khuất và hỏi vặn việc triều Tống mất nhị đế khi trước. Quần thần nước Tống ép Thiên Cương viết tờ biểu thú tội, coi Ai Tông như một chủ rợ, Thiên Cương không nghe và ghi và hộp đứng hài cốt bốn chữ ''cố chủ tuẫn quốc''. Thi hài Ai Tông bị đưa vào kho ngục Đại lý tự<ref name="TTTTG167" />. Nước Kim từ [[Kim Thái Tổ|Thái Tổ A Cốt Đả]] đến Ai Tông là được gần 120 năm, trải 6 đời, truyền 9 chủ.
 
== Tham khảo ==
*[[Kim sử]]
*[[Tống sử]]
*[[Tục tư trị thông giám]]
 
== Chú thích ==