Khác biệt giữa các bản “MIME”

n
vi phạm bản quyền (HG)
n (vi phạm bản quyền (HG))
 
==Giới thiệu chung==
Ngày nay người ta dễ dàng trao đổi các văn bản điện tử qua e-mail. Chỉ cần nhấp chuột vào nút “Thêm tập tin đính kèm” (Insert Attachment), rồi xác định tên tập tin đính kèm và thế là mọi chuyện được hoàn tất. Nhưng trước năm 1992, người ta không có cách làm chuẩn để thực hiện thao tác nói trên. Lúc đó, nếu muốn gửi một bản sao văn bản (chẳng hạn, một hợp đồng được soạn thảo bằng chương trình phần mềm xử lý văn bản, một bảng thống kê hoặc một biểu đồ) thì sự chọn lựa của bạn bị giới hạn :
 
- Bạn có thể in văn bản ra giấy, rồi gửi nó đến người nhận qua đường bưu điện, fax hoặc thư tay. Như vậy, người nhận đọc được bản cuối cùng, nhưng nếu muốn thay đổi hoặc thêm nhận xét thì họ phải viết vào bản in và gửi nó lại cho bạn để chỉnh sửa.
 
- Bạn có thể lưu văn bản trên đĩa mềm, rồi trao nó cho người nhận hoặc gửi qua đường bưu điện. Cách làm này cho phép người nhận sử dụng máy tính để đọc văn bản với những hình ảnh và định dạng gốc còn y nguyên, cho nên việc biên tập hay hiệu đính trở nên dễ dàng. Nhưng làm cách này mất thời gian và tốn kém.
 
- Bạn có thể gửi văn bản như thư điện tử. Trước tiên, bạn phải chuyển văn bản đã được định dạng thành văn bản ASCII thuần túy. Như vậy, nó đến tay người nhận dưới dạng kỹ thuật số nhưng tất cả các đồ họa và định dạng của nó bị mất. Người nhận có thể chỉnh sửa văn bản này và chuyển lại cho bạn, tuy nhiên bạn phải đọc so từng chữ và từng hàng một để xem có gì thay đổi hay không. Sau đó, bạn chuyển nó trở lại định dạng ban đầu (có thể bằng cách cắt và dán) và xác định định dạng cho từng chỗ đã bị thay đổi. Cách này làm bạn tốn nhiều công sức hơn là cách in ra giấy để hiệu đính.
 
Bạn thật sự bó tay nếu văn bản có kèm các tập tin đồ họa, âm thanh hoặc phim ảnh, hoặc được viết bằng tiếng Nhật hay tiếng Nga bởi vì cả hai ngôn ngữ này không sử dụng các mẫu tự La-tinh vốn là nền tảng của bộ ký tự ASCII.
 
Với sự ra đời của MIME, người ta có thể khắc phục những nhược điểm kể trên. Chuẩn MIME đã nhanh chóng lan tỏa và hiện nay nó tương thích với tất cả các chương trình e-mail và trình duyệt web.
 
MIME có những tính năng sau đây.
 
Hỗ trợ những ký tự không có trong ASCII
 
Đối với truyền thông điện tử, các chữ trong bảng mẫu tự La-tinh (không có dấu) được số hóa thành bộ ký tự ASCII. Tuy nhiên, với hàng tỷ người không nói tiếng Anh và không sử dụng chữ La-tinh (hoặc sử dụng chữ La-tinh có dấu như tiếng Việt chẳng hạn) thì bộ ký tự ASCII trở nên vô dụng. MIME cho phép sử dụng các bảng chữ cái khác thông qua các bộ ký tự được xác định trước. Chẳng hạn, chuẩn ISO 8859-1 mở rộng bộ ký tự ASCII để chứa thêm các ký tự có dấu được sử dụng trong tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Đức. Còn chuẩn ISO 8859-8 dành cho tiếng Do Thái và BIG5 đã trở thành chuẩn phổ biến cho tiếng Hoa ở Đài Loan.
 
Ghi nhãn loại nội dung
 
Để xác định loại nội dung trong một tập tin, đa số các hệ điều hành sử dụng phần mở rộng trong tên tập tin, trong khi đó MIME cung cấp các chỉ dẫn cụ thể hơn. Loại nội dung ghi theo kiểu MIME bao gồm một loại chính và một loại phụ (xem bảng). Loại chính thường chung chung, chẳng hạn văn bản, âm thanh, phim, hình ảnh và trình ứng dụng. Loại phụ cung cấp thông tin mà chương trình máy tính cần để xử lý đúng nội dung, chẳng hạn loại nội dung hình ảnh phụ bao gồm các định dạng JPEG, GIF, PNG và TIFF.
 
Nhờ có các loại nội dung ghi theo dạng MIME mà Internet vận hành trôi chảy. Khi máy chủ web gửi nội dung (có thể là văn bản HTML, hình ảnh JPEG hoặc GIF, hoặc tập tin PDF) đến một trình duyệt web thì nó cũng bao gồm một ký hiệu nhận diện loại MIME. Đây là cách trình duyệt web nhận biết khi nào hiển thị văn bản HTML và hình ảnh, hoặc khi nào thì khởi động chương trình Acrobat Reader để đọc tập tin PDF.
 
Hỗ trợ cho nội dung không thuộc loại văn bản
 
Di sản của các hệ thống e-mail cũ vẫn còn làm hạn chế hoạt động của hệ thống ngày nay. Hệ thống hiện tại chỉ có thể chuyển thư chứa văn bản ASCII. Những nội dung không thuộc loại văn bản, như hình ảnh hoặc âm thanh, trước khi được gửi đi thông qua hệ thống e-mail thì thường được mã hóa thành các ký tự văn bản bằng cách sử dụng một hệ thống có tên gọi là Base64. MIME cũng cung cấp một cách lựa chọn khác được gọi là quoted-printable phù hợp với các bộ ký tự mà phần lớn đều tương thích với ASCII. Nếu bạn từng gặp ký tự “=20” hoặc dấu “=” nằm rải rác trong văn bản thư điện tử, đặc biệt ở những bức thư được chuyển tiếp nhiều lần, thì chúng có thể là những thuộc tính của văn bản bị giải mã sai trong quá trình mã hóa quoted-printable.
 
Hỗ trợ cho các văn bản ghép, bao gồm nhiều thành phần
 
Khi gửi e-mail có tập tin đính kèm thì chương trình e-mail của bạn sẽ tạo ra một thông điệp bao gồm hai phần. Phần đầu bao gồm văn bản thư, và phần hai là tập tin đính kèm (được mã hóa bằng hệ thống Base64). MIME chỉ rõ cách mà hai phần trên kết hợp lại với nhau để hình thành một thư duy nhất.
MIME đã được sử dụng như một công nghệ tạo văn bản ghép cho các trang web. Phần lớn các trang web bao gồm một tập tin HTML, một số tập tin hình ảnh, và có thể có các tập tin âm thanh và phim được ghép lại với nhau. Để xem trang web ngoại tuyến (off-line, tức là lúc máy không vào mạng), bạn phải lưu lại tất cả các tập tin này. Nhiều trình duyệt web cho phép bạn chọn : lưu theo dạng văn bản (Text File) ; chỉ lưu tập tin HTML (Web Page, HTML only) ; lưu tập tin HTML cùng với tất cả các tập tin hình ảnh vào một thư mục (Web Page, complete) ; hoặc lưu tất cả vào một tập tin (Web Archive, single file). Nếu chọn cách cuối cùng thì trình duyệt của bạn sẽ lưu các tập tin HTML và hình ảnh như một văn bản ghép dạng MIME với phần tên mở rộng là “.mht”. Nếu xem văn bản ghép này bằng chương trình hiệu đính văn bản thì bạn sẽ thấy nhiều phần được tách biệt với nhau bằng một đường gạch nối và hình ảnh được mã hóa bằng Base64.
 
Russell Kay (Minh Anh dịch)
 
==Mô tả đầu gói tin MIME==