Khác biệt giữa các bản “Hồ tiêu”

→‎Tên gọi: hồ là cổ nhục chứ ko phải cổ nguyệt
n (Thay thế ‘(?mi)\{\{(Liên kết chọn lọc|Link FA)\|.+?\}\}\n?’ bằng ‘’.: deprecated template)
(→‎Tên gọi: hồ là cổ nhục chứ ko phải cổ nguyệt)
[[Tập tin:Piper nigrum drawing 1832.jpg|nhỏ|trái|240px|Tranh vẽ hồ tiêu năm 1832]]
Hồ tiêu là một loại dây leo, thân dài, nhẵn không mang lông, bám vào các cây khác bằng rễ. Thân mọc cuốn, mang lá mọc cách. Lá như lá [[trầu không]], nhưng dài và thuôn hơn. Có hai loại nhánh: một loại nhánh mang quả, và một loại nhánh dinh dưỡng, cả hai loại nhánh đều xuất phát từ kẽ lá. Đối chiếu với lá là một cụm hoa hình đuôi sóc. Khi chín, rụng cả chùm. Quả hình cầu nhỏ, chừng 20-30 quả trên một chùm, lúc đầu màu xanh lục, sau có màu vàng, khi chín có màu đỏ. Từ quả này có thể thu hoạch được '''hồ tiêu trắng''', '''hồ tiêu đỏ''', '''hồ tiêu xanh''' và '''hồ tiêu đen'''. Đốt cây rất dòn, khi vận chuyển nếu không cận thận thì cây có thể chết. Quả có một [[hạt]] duy nhất.
 
==Tên gọi==
Cây có tên '''cổ nguyệt''' trong tiếng Trung Quốc vì được trồng tại nước Hồ (胡), chữ này do hai chữ "cổ" 古 và "nguyệt" 月 hợp thành.
 
==Thu hoạch và chế biến==