Khác biệt giữa các bản “Từ hóa dư”

n
không có tóm lược sửa đổi
n
n
''Từ hóa dư'' và [[từ hóa]] được quan tâm từ thời cổ, khi con người phát hiện đá [[nam châm]] và tìm cách chế tạo [[la bàn]] để định hướng.
 
Khi các nghiên cứu định lượng được thực hiện, dùng [[từ trường]] ngoài '''''H''''' từ hóa khối vật liệu [[sắt từ]], thì cho thấy cảm ứng từ '''''B''''', ''từ dư'' '''''B'''''(<sub>[H=0]</sub>) của vật liệu phụ thuộc phi tuyến vào trường từ hóa '''''H''''', và cả vào lịch sử quá trình từ hóa.
 
Thí nghiệm được tự động hóa có thể cho ra ngay các đường cong từ hóa, bằng thiết bị ''B-H Analyzer'', trong đó từ trường '''''H''''' tạo bằng dòng xoay chiều (AC), và ''[[Từ kế mẫu rung]]'' (Vibrating sample magnetometer) để đo cảm ứng từ '''''B'''''.
 
Các đường cong từ hóa nói trên gọi là ''Họ đường từ trễ'', và từ đó định nghĩa ra ''Từ dư bão hòa'' '''''B'''''<sub>r</sub> là từ dư thu được sau khi từ hóa bão hòa, và ''Từ kháng'' '''''H'''''<sub>c</sub> là từ trường ngoài cần thiết để ''khử'' từ dư.
 
== Ứng dụng ==
Giá trị từ dư của khối B<sub>r</sub> là một trong những thông số quan trọng nhất đặc trưng cho [[nam châm vĩnh cửu]]. Nam châm ''[[Neodymi]]'' là loại có từ dư mạnh nhất, xấp xỉ bằng 1.3 Tesla.
 
B<sub>r</sub> được chia cho thể tích để có giá trị từ dư đặc trưng cho vật liệu là M<sub>r</sub> (tức ''mật độ từ dư''). Khi cần phân biệt nó với các loại từ hóa dư khác, nó được gọi là từ dư bão hòa hoặc ''từ dư bão hòa đẳng nhiệt'' (Saturation isothermal remanence, SIRM) và ký hiệu là M<sub>rs</sub>.
 
=== Từ dư đẳng nhiệt ===