Khác biệt giữa các bản “Sức khỏe sinh sản”

n
không có tóm lược sửa đổi
n
Theo [[Tổ chức Y tế thế giới]] (WHO) '''sức khỏe sinh sản''' là trạng thái khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và hòa hợp xã hội về tất cả các phương diện liên quan đến hệ thống sinh sản trong suốt các giai đoạn của cuộc đời. Chăm sóc SKSS là một tập hợp các phương pháp, kỹ thuật và dịch vụ nhằm giúp cho con người có tình trạng SKSS khỏe mạnh thông qua việc phòng chống và giải quyết những vấn đề liên quan đến SKSS. Điều này cũng bao gồm cả sức khỏe tình dục với mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống và mối quan hệ giữa con người với con người mà không chỉ dừng lại ở chăm sóc y tế và tư vấn một cách đơn thuần cho việc sinh sản và những nhiễm trùng qua đường tình dục.<ref>{{cite web|url=http://www.who.int/topics/reproductive_health/en/|title=WHO: Reproductive health|accessdate=2008-08-19}}</ref>
 
== Tổng quan: ==
 
===Sức Thựckhỏe trạngsinh về SKSSsản tại Việt Nam ===
=== Đặt vấn đề ===
Với đời sống ngày càng được cải
thiện và phát triển, mọi người dần dần quan tâm đến sức khỏe bản thân hơn đặc
biệt là về sức khỏe sinh sản .chất lượng chăm sóc sức khỏe sinh sản cho mọi
người đã và đang nhận được nhiều sự quan tâm của chính phủ các nước trên thế
giới cũng như của Việt Nam. Nước ta đã có “Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh
sản Việt Nam Giai đo n 2011-2020”, mục tiêu ghi rõ giảm nhiễm khuẩn đường sinh
sản, nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục.
 
Hiện nay việc mắc các bệnh về
sinh dục, sinh sản gây ảnh hưởng lớn đến đời sống về vật chất cũng như về tinh
thần của người mắc bệnh không chỉ ở nữ giới mà còn ở nam giới. Do vậy việc hiểu biết các kiến thức về SKSS cũng như các giải pháp phòng tránh là hết sức cần thiết.
 
Tuy nhiên, những nghiên cứu có
giá trị, đáp ứng được các yêu cầu nêu trên hiện còn rất thiếu. Đặc biệt, hiện
vẫn chưa có nghiên cứu nào ở nước ta về thực trạng và các yếu tố tổng hơp sức
khỏe sinh sản ở cả nam và nữ giới cũng như về các giải pháp nâng cao hiệu quả
phònng chống các loại bệnh về sinh sản, tình dục.Do vậy việc nghiên cứu về sức
khỏe sinh sản góp phần tạo nên một cơ sở cho việc tìm ra các biện pháp cải
thiện, phòng ngừa cũng như nâng cao về sức khỏe cho mọi người dân.
 
=== Thực trạng về SKSS tại Việt Nam ===
Sự phát triển của xã hội cũng đồng thời tạo ra những thách thức, đặc biệt trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS). Thanh niên vị thành niên được coi là đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong xã hội đã trở thành nhóm mục tiêu của các hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông (IEC) về SKSS ở Việt Nam. Thanh niên Việt Nam ngày nay đã có sự thay đổi về tập quán và văn hóa, như lập gia đình ở độ tuổi muộn hơn và gia tăng quan hệ tình dục trước hôn nhân. Thiếu số liệu điều tra về các trường hợp viêm nhiễm lây truyền qua đường tình dục (STIs) đã gây khó khăn cho việc lập báo cáo chính xác, tuy nhiên trong một nghiên cứu được thực hiện vào năm 1997 đã ước tính rằng sự lây lan của các viêm nhiễm lây truyền qua đường tình dục đã tăng lên 10 lần trong thập kỷ qua. Dường như tình trạng này đã không được cải thiện, đặc biệt là trong điều kiện hiện nay khi mà số công nhân lao động nhập cư sống xa nhà, xa người thân đang làm tăng nguy cơ lây nhiễm nhiều hơn so với trước đây.
 
=== Giải pháp phòng tránh ===
 
=== Tài liệu tham khảo ===
# WHO (2007) Global Strategy for Prevention and Control of Sexually Transmitted Infections 2006–2015, World Health Organization, Geneva [http://www.who.int/hiv/pub/toolkits/stis_strategy&#x5B;1&#x5D;en.pdf]
# Agumas Shibabaw, Tamrat Abebe, and Adane Mihret (2013), “Nasal carriage rate of methicillin resistant Staphylococcus aureus among Dessie Referral Hospital Health Care Workers; Dessie, Northeast Ethiopia”, Antimicrob Resist Infect Control. 2013 [http://www.aricjournal.com/content/2/1/25]
223.257

lần sửa đổi