Khác biệt giữa các bản “Nghìn lẻ một đêm”

không có tóm lược sửa đổi
 
Những lúc nàng Sheherazade ngừng lại và nói: "''Tiếc thay trời đã sáng rồi mà phần còn lại là đoạn hay nhất trong câu truyện...''" hoặc "''những truyện vừa rồi hay thật đấy nhưng không thể nào so sánh được chuyện bệ hạ sắp nghe đây...''" chính là lúc người kể chuyện thưa với thính giả đang chăm chú: "''Đêm đã khuya lắm rồi xin cho phép dừng lại đây, đêm mai tôi xin kể nốt hầu quý vị...''". Lối ngắt chuyện này có những bản ghi thành văn ghi tóm tắt: "''Muốn sự thể thế nào, xin xem hồi sau sẽ rõ''" (như trong các tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc).
 
== Ảnh hưởng lên văn hóa thế giới ==
''Nghìn lẻ một đêm'' có tầm ảnh hưởng to lớn lên nền văn học thế giới. Bao nhà văn đã ám chỉ đến ''Nghìn lẻ một đêm'' trong tác phẩm của họ hoặc chịu ảnh hưởng từ tác phẩm này. Họ là [[Henry Fielding]], [[Naguib Mahfouz]], [[John Barth]], [[Jorge Luis Borges]], [[Salman Rushdie]], [[Johann Wolfgang von Goethe]], [[Walter Scott]], [[William Makepeace Thackeray]], [[Wilkie Collins]], [[Elizabeth Gaskell]], [[Charles Nodier]], [[Gustave Flaubert]], [[Marcel Schwob]], [[Stendhal]], [[Alexandre Dumas]], [[Gérard de Nerval]], [[Arthur de Gobineau]], [[Aleksandr Sergeyevich Pushkin]], [[Lev Nikolayevich Tolstoy]], [[Hugo von Hofmannsthal]], [[Arthur Conan Doyle]], [[William Butler Yeats]], [[H. G. Wells]], [[Constantine P. Cavafy]], [[Italo Calvino]], [[Georges Perec]], [[H. P. Lovecraft]], [[Marcel Proust]], [[A. S. Byatt]] và [[Angela Carter]].<ref>{{chú thích sách |tựa đề=The Arabian Nights: A Companion |họ =Irwin |tên =Robert |đồng tác giả= |năm=2003 |nhà xuất bản=I.B. Tauris |nơi= |isbn=1-86064-983-1 |trang=290}}</ref>
 
Nhiều nhân vật trong tập truyện đã trở thành biểu tượng trong văn hóa phương Tây, chẳng hạn [[Aladdin]], [[Sinbad]] và [[Ali Baba]]. Một số yếu tố trong [[thần thoại Ả Rập]] và [[thần thoại Ba Tư]] đã trở nên phổ biến trong những [[kỳ ảo|truyện kỳ ảo]] hiện đại, chẳng hạn [[thần đèn]], [[thảm thần]], đèn thần,... Một ví dụ về sự phổ biến của các yếu tố này là khi tác giả [[L. Frank Baum]] đề xuất viết một câu chuyện kỳ ảo hiện đại trong đó từ bỏ mọi yếu tố rập khuôn thì những thứ khuôn mẫu mà theo ông cần bỏ là thần đèn, chú lùn và nàng tiên.<ref>Thurber (1984), tr. 64</ref>
 
Năm 1982, [[Liên minh Thiên văn học Quốc tế]] (IAU) bắt đầu dùng tên các nhân vật và nơi chốn trong tập truyện (theo bản dịch của [[Burton]]) để đặt tên cho nhiều đối tượng địa lý trên vệ tinh [[Enceladus (vệ tinh)|Enceladus]] của [[Sao Thổ]].<ref name="NameCategories">Blue, J.; (2006) [http://planetarynames.wr.usgs.gov/append6.html ''Categories for Naming Planetary Features'']</ref> do "bề mặt vệ tinh này quá kỳ lạ và bí ẩn như những đêm Ả Rập".
 
=== Trong văn hóa Ả Rập ===
Có ít bằng chứng cho thấy trong quá khứ ''Nghìn lẻ một đêm'' đã được thế giới Ả Rập trân quý. Nó ít được nhắc đến trong danh sách các tác phẩm văn học phổ biến và có rất ít bản thảo trước thế kỷ 18 còn sót lại.<ref>Reynolds (2006), tr. 272</ref> Trong thế giới Ả Rập thời Trung cổ, truyện giả tưởng có địa vị văn hóa thấp hơn so với thơ. Người ta xem tập truyện này là thứ ''khurafa'' (truyện không chắc có thực chỉ dành cho phụ nữ và trẻ em giải trí). Theo Robert Irwin, "Ngay cả thời nay, trừ một số nhà văn và viện sĩ, ''Nghìn lẻ một đêm'' vẫn còn bị khinh bỉ trong thế giới Ả Rập. Những mẩu truyện này bị xem là thông tục, không chắc có thực, ấu trĩ và được viết rất tệ hại".<ref>Irwin (2005), tr. 81-82</ref> Tuy nhiên, ''Nghìn lẻ một đêm'' vẫn là nguồn cảm hứng cho một số nhà văn hiện đại người Ai Cập, chẳng hạn [[Tawfiq al-Hakim]] (tác giả của vở kịch tượng trưng nhan đề ''Shahrazad'', 1934), [[Taha Hussein]] (tác giả của ''Scheherazade's Dreams'', 1943)<ref name="Encyclopaedia Iranica">{{chú thích web|url=http://www.iranicaonline.org/articles/alf-layla-wa-layla |title=Alf layla wa layla |publisher=Encyclopaedia Iranic |date= |accessdate=2013-10-18}}</ref> và [[Naguib Mahfouz]] (tác giả của ''Những ngày và đêm Ả Rập'', 1981).
 
=== Các ảnh hưởng ban đầu lên văn học châu Âu ===
Mặc dù bản dịch ''Nghìn lẻ một đêm'' ra ngôn ngữ nào đó ở châu Âu chỉ mới xuất hiện từ 1704 nhưng có khả năng tập truyện đã ảnh hưởng lên văn hóa phương Tây từ sớm hơn thế rất nhiều. Các nhà văn Kitô giáo ở Tây Ban Nha thời Trung cổ đã dịch thuật nhiều tác phẩm từ tiếng Ả Rập, chủ yếu có nội dung về triết học và toán học, nhưng vẫn có truyện giả tưởng Ả Rập. Bằng chứng cho điều này là tập truyện ''[[El Conde Lucanor]]'' của [[Juan Manuel, Prince of Villena|Juan Manuel]] và ''Cuốn sách của quái thú'' của [[Ramón Llull]].<ref>Irwin (2005), tr. 92-94</ref> Chủ đề và mô típ kể chuyện song song của ''Nghìn lẻ một đêm'' có trong tác phẩm ''[[The Canterbury Tales]]'' của [[Geoffrey Chaucer|Chaucer]] và ''[[Decameron]]'' của [[Giovanni Boccaccio|Boccaccio]]. Có bằng chứng cho thấy tập truyện đã lan truyền đến vùng [[Balkkans]]; bản dịch bằng [[tiếng România]] cũng có từ trước thế kỷ 17 dựa trên bản tiếng Hy Lạp.<ref>Irwin (2005), tr. 61-62</ref>
 
=== Văn học phương Tây từ thế kỷ 18 ===
[[Tập tin:1716 Tales 20.jpg|nhỏ|Tem bưu điện Hungary trên đó vẽ hình con ngựa bay trong ''Nghìn lẻ một đêm'']]
 
Tập truyện ''Nghìn lẻ một đêm'' hiện đại bắt nguồn từ bản dịch của Antoine Galland (năm 1704). Thành công tức thì đến với bản dịch của Galland có lẽ là vì nó ra mắt đúng lúc diễn ra phong trào đọc ''contes de fées'' (tạm dịch: "truyện cổ tích") - khởi đầu từ ''Histoire d'Hypolite'' của [[Madame d'Aulnoy]] vào năm 1690. Cuốn sách của d'Aulnoy có kết cấu rất giống với tác phẩm ''Nghìn lẻ một đêm'' và cũng được dẫn dắt bởi một người nữ. Thành công của ''Nghìn lẻ một đêm'' lan tỏa khắp Âu châu. Cuối thế kỷ 18, nó đã được dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Ý, tiếng Hà Lan, tiếng Đan Mạch, tiếng Nga, tiếng Flemish và tiếng Yiddish.<ref>Reynolds (2006), tr. 279-81</ref> Bản truyện của Galland cũng kích thích một dòng thác truyện nhái, khi một số nhà văn Pháp bắt đầu nhái phong cách và bịa đặt một cách gượng gạo, hời hợt trên nền bối cảnh phương Đông. Một số ví dụ về truyện loại này là ''Les quatre Facardins'' (1730) của [[Antoine Hamilton|Anthony Hamilton]], ''[[The Sofa: A Moral Tale|Le sopha]]'' (1742) của [[Claude Prosper Jolyot de Crébillon|Crébillon]] và ''[[The Indiscreet Jewels|Les bijoux indiscrets]]'' (1748) của [[Denis Diderot|Diderot]]. Các tác phẩm này thường chứa đựng những sự ám chỉ đầy úp mở về xã hội Pháp đương thời.
 
''Nghìn lẻ một đêm'' cũng là tác phẩm yêu thích của nhiều tác giả Anh thời Lãng mạn và Victoria. Theo A. S. Byatt, "Trong nền thi ca Lãng mạn Anh, ''Nghìn lẻ một đêm'' là điều tuyệt vời đối nghịch với thứ trần tục, là thứ giàu tính tưởng tượng đối nghịch với sự buồn tẻ và ngày một phi lý."<ref>Byatt (2001), tr. 167</ref> [[William Wordsworth|Wordsworth]] và [[Alfred Lord Tennyson|Tennyson]] còn nhắc về tập truyện trong những bài thơ của họ.<ref>Irwin (2005), tr. 266-69</ref> Không khí của ''Nghìn lẻ một đêm'' được [[Charles Dickens]] mang vào đoạn mở đầu tiểu thuyết cuối cùng ''[[The Mystery of Edwin Drood]]'' (1870).<ref>Irwin (2005), tr. 270</ref>
 
Một số nhà văn còn cố gắng viết "Nghìn lẻ hai đêm", chẳng hạn [[Théophile Gautier]] (''La mille deuxième nuit'', 1842)<ref name="Encyclopaedia Iranica"/>, [[Joseph Roth]] (''Die Geschichte von der 1002. Nacht'', 1939).<ref name="Byatt p.168">Byatt (2001), tr. 168</ref> và [[Edgar Allan Poe]]. Poe có tác phẩm "[[s:The Thousand-and-Second Tale of Scheherazade|The Thousand and Second Tale of Scheherazade]]" (1845), trong đó mô tả thêm chuyến đi thứ tám cũng là cuối cùng của Sinbad. Truyện này kết thúc bằng việc nhà vua xử tử Scheherazade.
 
Một số tác giả hiện đại chịu ảnh hưởng của ''Nghìn lẻ một đêm'' là [[James Joyce]], [[Marcel Proust]], [[Jorge Luis Borges]] và [[John Barth]].
 
=== Điện ảnh ===
Những câu chuyện từ ''Nghìn lẻ một đêm'' từ lâu đã trở thành đề tài quen thuộc của các bộ phim, khởi đầu từ ''Le Palais des Mille et une nuits'' (1905) của [[Georges Méliès]]. Phim được biết đến nhiều nhất là phim hoạt hình ''[[Aladdin (phim Disney 1992)|Aladdin]]'' (1992) của [[Công ty Walt Disney]]. Robert Irwin cho rằng [[The Thief of Bagdad (phim 1924)|The Thief of Bagdad]] (bản 1924), [[The Thief of Bagdad (phim 1940)|The Thief of Bagdad]] (bản 1940) và ''[[Arabian Nights (phim 1974)|Arabian Nights]]'' (1974) nằm trong số "những tuyệt tác của điện ảnh thế giới".<ref>Irwin (2005), tr. 291-292</ref> Michael James Lundell gọi phim ''Il fiore'' là bản chuyển thể trung thành nhất với nguyên tác của ''Nghìn lẻ một đêm'' (nhấn mạnh mặt gợi dục trong truyện).<ref>{{citation|doi=10.1093/adaptation/aps022|title=Pasolini’s Splendid Infidelities: Un/Faithful Film Versions of ''The Thousand and One Nights''|first=Michael|last=Lundell|journal=Adaptation|volume=6|issue=1|year=2013|publisher=Oxford University Press|pages=120–127}}</ref>
 
=== Âm nhạc ===
''Nghìn lẻ một đêm'' đã ảnh hưởng đến các tác phẩm âm nhạc của:
* [[François-Adrien Boieldieu]]: ''[[Le calife de Bagdad]]'' (1800)
* [[Carl Maria von Weber]]: ''[[Abu Hassan]]'' (1811)
* [[Luigi Cherubini]]: ''Ali Baba'' (1833)
* [[Peter Cornelius]]: ''[[Der Barbier von Bagdad]]'' (1858)
* [[Ernest Reyer]]: ''[[La statue]]'' (1861)
* [[C. F. E. Horneman]] (1840–1906), ''Aladdin'' (overture), 1864
* [[Nikolai Rimsky-Korsakov]]: ''[[Scheherazade (Rimsky-Korsakov)|Scheherazade]]'' Op. 35 (1888) <ref>[http://www.iranicaonline.org/articles/alf-layla-wa-layla Encyclopaedia Iranica Alf layla wa layla], Encyclopaedia Iranica</ref>
* [[Dikran Tchouhadjian]] (1837-1898), ''Zemire'' (1891)
* [[Henri Rabaud]]: ''[[Mârouf, savetier du Caire]]'' (1914)
* [[Carl Nielsen]], ''[[Aladdin (Nielsen)|Aladdin Suite]]'' (1918–1919)
* [[Renaissance (band)|Renaissance]]: ''[[Scheherazade and Other Stories]]'' (1975)
* [[Fikret Amirov]]: ''Arabian Nights'' (Ballet, 1979)
* [[Ezequiel Viñao]], ''La Noche de las Noches'' (1990)
* [[Carl Davis]], ''Aladdin''
* [[Kamelot]], ''Nights of Arabia'' (1999)
* [[Sarah Brightman]], ''Harem'' and ''Arabian Nights'' (2003)
* [[Ch!pz]], "1001 Arabian Nights" (2004)
* [[Nightwish]], ''Sahara'' (2007)
* [[Abney Park (band)]], ''Scheherazade'' (2013)
 
== Những câu chuyện chính ==
 
|}
 
== Ảnh hưởng lên văn hóa thế giới ==
{{Commonscat|Arabian Nights}}
''Nghìn lẻ một đêm'' có tầm ảnh hưởng to lớn lên nền văn học thế giới. Bao nhà văn đã ám chỉ đến ''Nghìn lẻ một đêm'' trong tác phẩm của họ hoặc chịu ảnh hưởng từ tác phẩm này. Trong số đó có [[Henry Fielding]], [[Naguib Mahfouz]], [[John Barth]], [[Jorge Luis Borges]], [[Salman Rushdie]], [[Johann Wolfgang von Goethe]], [[Walter Scott]], [[William Makepeace Thackeray]], [[Wilkie Collins]], [[Elizabeth Gaskell]], [[Charles Nodier]], [[Gustave Flaubert]], [[Marcel Schwob]], [[Stendhal]], [[Alexandre Dumas]], [[Gérard de Nerval]], [[Arthur de Gobineau]], [[Aleksandr Sergeyevich Pushkin]], [[Lev Nikolayevich Tolstoy]], [[Hugo von Hofmannsthal]], [[Arthur Conan Doyle]], [[William Butler Yeats]], [[H. G. Wells]], [[Constantine P. Cavafy]], [[Italo Calvino]], [[Georges Perec]], [[H. P. Lovecraft]], [[Marcel Proust]], [[A. S. Byatt]] và [[Angela Carter]].<ref>{{chú thích sách |tựa đề=The Arabian Nights: A Companion |họ =Irwin |tên =Robert |đồng tác giả= |năm=2003 |nhà xuất bản=I.B. Tauris |nơi= |isbn=1-86064-983-1 |trang=290}}</ref>
 
Nhiều nhân vật trong tập truyện đã trở thành biểu tượng trong văn hóa phương Tây, chẳng hạn [[Aladdin]], [[Sinbad]] và [[Ali Baba]]. Một số yếu tố trong [[thần thoại Ả Rập]] và [[thần thoại Ba Tư]] đã trở nên phổ biến trong những [[kỳ ảo|truyện kỳ ảo]] hiện đại, chẳng hạn [[thần đèn]], [[thảm thần]], đèn thần,... Một ví dụ về sự phổ biến của các yếu tố này là khi tác giả [[L. Frank Baum]] đề xuất viết một câu chuyện kỳ ảo hiện đại trong đó từ bỏ mọi yếu tố rập khuôn thì những thứ khuôn mẫu mà theo ông cần bỏ là thần đèn, chú lùn và nàng tiên.<ref>Thurber (1984), tr. 64</ref>
 
Năm 1982, [[Liên minh Thiên văn học Quốc tế]] (IAU) bắt đầu dùng tên các nhân vật và nơi chốn trong tập truyện (theo bản dịch của [[Burton]]) để đặt tên cho nhiều đối tượng địa lý trên vệ tinh [[Enceladus (vệ tinh)|Enceladus]] của [[Sao Thổ]].<ref name="NameCategories">Blue, J.; (2006) [http://planetarynames.wr.usgs.gov/append6.html ''Categories for Naming Planetary Features'']</ref> do "bề mặt vệ tinh này quá kỳ lạ và bí ẩn như những đêm Ả Rập".
 
=== Trong văn hóa Ả Rập ===
Có ít bằng chứng cho thấy trong quá khứ ''Nghìn lẻ một đêm'' đã được thế giới Ả Rập trân quý. Nó ít được nhắc đến trong danh sách các tác phẩm văn học phổ biến và có rất ít bản thảo trước thế kỷ 18 còn sót lại.<ref>Reynolds (2006), tr. 272</ref> Trong thế giới Ả Rập thời Trung cổ, truyện giả tưởng có địa vị văn hóa thấp hơn so với thơ. Người ta xem tập truyện này là thứ ''khurafa'' (truyện không chắc có thực chỉ dành cho phụ nữ và trẻ em giải trí). Theo Robert Irwin, "Ngay cả thời nay, trừ một số nhà văn và viện sĩ, ''Nghìn lẻ một đêm'' vẫn còn bị khinh bỉ trong thế giới Ả Rập. Những mẩu truyện này bị xem là thông tục, không chắc có thực, ấu trĩ và được viết rất tệ hại".<ref>Irwin (2005), tr. 81-82</ref> Tuy nhiên, ''Nghìn lẻ một đêm'' vẫn là nguồn cảm hứng cho một số nhà văn hiện đại người Ai Cập, chẳng hạn [[Tawfiq al-Hakim]] (tác giả của vở kịch tượng trưng nhan đề ''Shahrazad'', 1934), [[Taha Hussein]] (tác giả của ''Scheherazade's Dreams'', 1943)<ref name="Encyclopaedia Iranica">{{chú thích web|url=http://www.iranicaonline.org/articles/alf-layla-wa-layla |title=Alf layla wa layla |publisher=Encyclopaedia Iranic |date= |accessdate=2013-10-18}}</ref> và [[Naguib Mahfouz]] (tác giả của ''Những ngày và đêm Ả Rập'', 1981).
 
=== Các ảnh hưởng ban đầu lên văn học châu Âu ===
Mặc dù bản dịch ''Nghìn lẻ một đêm'' ra ngôn ngữ nào đó ở châu Âu chỉ mới xuất hiện từ 1704 nhưng có khả năng tập truyện đã ảnh hưởng lên văn hóa phương Tây từ sớm hơn thế rất nhiều. Các nhà văn Kitô giáo ở Tây Ban Nha thời Trung cổ đã dịch thuật nhiều tác phẩm từ tiếng Ả Rập, chủ yếu có nội dung về triết học và toán học, nhưng vẫn có truyện giả tưởng Ả Rập. Bằng chứng cho điều này là tập truyện ''[[El Conde Lucanor]]'' của [[Juan Manuel, Prince of Villena|Juan Manuel]] và ''Cuốn sách của quái thú'' của [[Ramón Llull]].<ref>Irwin (2005), tr. 92-94</ref> Chủ đề và mô típ kể chuyện song song của ''Nghìn lẻ một đêm'' có trong tác phẩm ''[[The Canterbury Tales]]'' của [[Geoffrey Chaucer|Chaucer]] và ''[[Decameron]]'' của [[Giovanni Boccaccio|Boccaccio]]. Có bằng chứng cho thấy tập truyện đã lan truyền đến vùng [[Balkkans]]; bản dịch bằng [[tiếng România]] cũng có từ trước thế kỷ 17 dựa trên bản tiếng Hy Lạp.<ref>Irwin (2005), tr. 61-62</ref>
 
=== Văn học phương Tây từ thế kỷ 18 ===
[[Tập tin:1716 Tales 20.jpg|nhỏ|Tem bưu điện Hungary trên đó vẽ hình con ngựa bay trong ''Nghìn lẻ một đêm'']]
 
Tập truyện ''Nghìn lẻ một đêm'' hiện đại bắt nguồn từ bản dịch của Antoine Galland (năm 1704). Thành công tức thì đến với bản dịch của Galland có lẽ là vì nó ra mắt đúng lúc diễn ra phong trào đọc ''contes de fées'' (tạm dịch: "truyện cổ tích") - khởi đầu từ ''Histoire d'Hypolite'' của [[Madame d'Aulnoy]] vào năm 1690. Cuốn sách của d'Aulnoy có kết cấu rất giống với tác phẩm ''Nghìn lẻ một đêm'' và cũng được dẫn dắt bởi một người nữ. Thành công của ''Nghìn lẻ một đêm'' lan tỏa khắp Âu châu. Cuối thế kỷ 18, nó đã được dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Ý, tiếng Hà Lan, tiếng Đan Mạch, tiếng Nga, tiếng Flemish và tiếng Yiddish.<ref>Reynolds (2006), tr. 279-81</ref> Bản truyện của Galland cũng kích thích một dòng thác truyện nhái, khi một số nhà văn Pháp bắt đầu nhái phong cách và bịa đặt một cách gượng gạo, hời hợt trên nền bối cảnh phương Đông. Một số ví dụ về truyện loại này là ''Les quatre Facardins'' (1730) của [[Antoine Hamilton|Anthony Hamilton]], ''[[The Sofa: A Moral Tale|Le sopha]]'' (1742) của [[Claude Prosper Jolyot de Crébillon|Crébillon]] và ''[[The Indiscreet Jewels|Les bijoux indiscrets]]'' (1748) của [[Denis Diderot|Diderot]]. Các tác phẩm này thường chứa đựng những sự ám chỉ đầy úp mở về xã hội Pháp đương thời.
 
''Nghìn lẻ một đêm'' cũng là tác phẩm yêu thích của nhiều tác giả Anh thời Lãng mạn và Victoria. Theo A. S. Byatt, "Trong nền thi ca Lãng mạn Anh, ''Nghìn lẻ một đêm'' là điều tuyệt vời đối nghịch với thứ trần tục, là thứ giàu tính tưởng tượng đối nghịch với sự buồn tẻ và ngày một phi lý."<ref>Byatt (2001), tr. 167</ref> [[William Wordsworth|Wordsworth]] và [[Alfred Lord Tennyson|Tennyson]] còn nhắc về tập truyện trong những bài thơ của họ.<ref>Irwin (2005), tr. 266-69</ref> Không khí của ''Nghìn lẻ một đêm'' được [[Charles Dickens]] mang vào đoạn mở đầu tiểu thuyết cuối cùng ''[[The Mystery of Edwin Drood]]'' (1870).<ref>Irwin (2005), tr. 270</ref>
 
Một số nhà văn còn cố gắng viết "Nghìn lẻ hai đêm", chẳng hạn [[Théophile Gautier]] (''La mille deuxième nuit'', 1842)<ref name="Encyclopaedia Iranica"/>, [[Joseph Roth]] (''Die Geschichte von der 1002. Nacht'', 1939).<ref name="Byatt p.168">Byatt (2001), tr. 168</ref> và [[Edgar Allan Poe]]. Poe có tác phẩm "[[s:The Thousand-and-Second Tale of Scheherazade|The Thousand and Second Tale of Scheherazade]]" (1845), trong đó mô tả thêm chuyến đi thứ tám cũng là cuối cùng của Sinbad. Truyện này kết thúc bằng việc nhà vua xử tử Scheherazade.
 
Một số tác giả hiện đại chịu ảnh hưởng của ''Nghìn lẻ một đêm'' là [[James Joyce]], [[Marcel Proust]], [[Jorge Luis Borges]] và [[John Barth]].
 
=== Điện ảnh ===
Những câu chuyện từ ''Nghìn lẻ một đêm'' từ lâu đã trở thành đề tài quen thuộc của các bộ phim, khởi đầu từ ''Le Palais des Mille et une nuits'' (1905) của [[Georges Méliès]]. Phim được biết đến nhiều nhất là phim hoạt hình ''[[Aladdin (phim Disney 1992)|Aladdin]]'' (1992) của [[Công ty Walt Disney]]. Robert Irwin cho rằng [[The Thief of Bagdad (phim 1924)|The Thief of Bagdad]] (bản 1924), [[The Thief of Bagdad (phim 1940)|The Thief of Bagdad]] (bản 1940) và ''[[Arabian Nights (phim 1974)|Arabian Nights]]'' (1974) nằm trong số "những tuyệt tác của điện ảnh thế giới".<ref>Irwin (2005), tr. 291-292</ref> Michael James Lundell gọi phim ''Il fiore'' là bản chuyển thể trung thành nhất với nguyên tác của ''Nghìn lẻ một đêm'' (nhấn mạnh mặt gợi dục trong truyện).<ref>{{citation|doi=10.1093/adaptation/aps022|title=Pasolini’s Splendid Infidelities: Un/Faithful Film Versions of ''The Thousand and One Nights''|first=Michael|last=Lundell|journal=Adaptation|volume=6|issue=1|year=2013|publisher=Oxford University Press|pages=120–127}}</ref>
 
=== Âm nhạc ===
''Nghìn lẻ một đêm'' đã ảnh hưởng đến các tác phẩm âm nhạc của:
* [[François-Adrien Boieldieu]]: ''[[Le calife de Bagdad]]'' (1800)
* [[Carl Maria von Weber]]: ''[[Abu Hassan]]'' (1811)
* [[Luigi Cherubini]]: ''Ali Baba'' (1833)
* [[Peter Cornelius]]: ''[[Der Barbier von Bagdad]]'' (1858)
* [[Ernest Reyer]]: ''[[La statue]]'' (1861)
* [[C. F. E. Horneman]] (1840–1906), ''Aladdin'' (overture), 1864
* [[Nikolai Rimsky-Korsakov]]: ''[[Scheherazade (Rimsky-Korsakov)|Scheherazade]]'' Op. 35 (1888) <ref>[http://www.iranicaonline.org/articles/alf-layla-wa-layla Encyclopaedia Iranica Alf layla wa layla], Encyclopaedia Iranica</ref>
* [[Dikran Tchouhadjian]] (1837-1898), ''Zemire'' (1891)
* [[Henri Rabaud]]: ''[[Mârouf, savetier du Caire]]'' (1914)
* [[Carl Nielsen]], ''[[Aladdin (Nielsen)|Aladdin Suite]]'' (1918–1919)
* [[Renaissance (band)|Renaissance]]: ''[[Scheherazade and Other Stories]]'' (1975)
* [[Fikret Amirov]]: ''Arabian Nights'' (Ballet, 1979)
* [[Ezequiel Viñao]], ''La Noche de las Noches'' (1990)
* [[Carl Davis]], ''Aladdin''
* [[Kamelot]], ''Nights of Arabia'' (1999)
* [[Sarah Brightman]], ''Harem'' and ''Arabian Nights'' (2003)
* [[Ch!pz]], "1001 Arabian Nights" (2004)
* [[Nightwish]], ''Sahara'' (2007)
* [[Abney Park (band)]], ''Scheherazade'' (2013)
 
== Chú thích ==
 
== Đọc thêm ==
{{Commonscat|Arabian Nights}}
*David Pinault ''Story-Telling Techniques in the Arabian Nights'' (Brill Publishers, 1992)
*Ulrich Marzolph, Richard van Leeuwen, Hassan Wassouf,''The Arabian Nights Encyclopedia'' (2004)
*''In Arabian Nights: A search of Morocco through its stories and storytellers'' by Tahir Shah, Doubleday, 2008.
* Nurse, Paul McMichael. ''Eastern Dreams: How the Arabian Nights Came to the World'' Viking Canada: 2010. General popular history of the 1001 Nights from its earliest days to the present.
* {{TĐBKVN|19766}}
 
* {{Britannica|593514|The Thousand and One Nights (Asian literature)}}
[[Thể loại:Nghìn lẻ một đêm| ]]
[[Thể loại:Bài cơ bản dài]]