Khác biệt giữa các bản “Adenozin triphotphat”

Từ ngũ
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
(Từ ngũ)
Phân tử ATP gồm [[adenosine]] - tạo ra từ một vòng [[adenine]] và một đường [[ribose]] - và ba nhóm [[phosphate]] (nên gọi là triphosphate). Các nhóm phosphat, bắt đầu từ nhóm gần nhất với nhóm ribose, được gọi lần lượt là alpha (α), beta (β), và gamma (γ) phosphat. ATP tan tốt trong nước và khá ổn định trong dung dịch có độ pH từ 6.8 đến 7.4, nhưng nhanh chóng bị [[thủy phân]] ở pH quá cao hoặc quá thấp. Do đó, ATP được dự trữ tốt nhất dưới dạng muối khan.
Phân tử ATP không ổn định trong nước [[Dung dịch đệm|không đệm]] và bị thủy phân thành [[adenosin diphosphate|ADP]] và phosphate. Lý do là liên kết giữa các phần tử phosphate còn lại trong ATP yếu hơn liên kết hydro giữa [[adenosin diphosphate|ADP]] và nước. Vì vậy, nếu ATP và [[adenosine diphosphate|ADP]] ở trong [[cân bằng hóa học]] trong nước, gần như toàn bộ ATP sẽ dần chuyển thành [[adenosine diphosphate|ADP]]. Một hệ thống hóa học ở xa khỏi cân bằng có chứa [[năng lượng tự do Gibbs]], và có khả năng sinh [[công (nhiệt động học)|công]]. Tế bào sống giữ tỉ lệ ATP trên [[adenosine diphosphate|ADP]] ở mức 10<sup>10</sup> lần mức cân bằng, với nồng độ ATP cao gấp một nghìn lần nồng độ [[adenosine diphosphate|ADP]]. Ở mức xa cân bằng như trên, khi bị thủy phân ATP giải phóng một lượng lớn năng lượng.
ATP thường được gọi là "phân tử năng lượng cao". Tuy nhiên, cách gọi này dễ đánh lạc hướng. Như tất cả phản ứng hóa học đã đạt đến cân bằng, một hỗn hợp ATP và [[adenosine diphosphate|ADP]] đã đạt đến cân bằng ổn định trong nước sẽ không dẫn đến thêm thủy phân tịnh của ATP. Nói chính xác hơn, ATP và nước giống như một hỗn hợp các chất phản ứng như xăng và chất oxi-hóa: cả hai phải có mặt mới có sựthế giải phóng năng lượng.
{{sơ khai hóa học}}
{{Commonscat|Adenosine triphosphate}}
Người dùng vô danh