Khác biệt giữa các bản “Cô Trúc”

(Trang mới: “{{Infobox Former Country |native_name = 孤竹国 |conventional_long_name = Cô Trúc quốc |common_name = Cô Trúc |national_motto = |continent = châu Á |regio...”)
 
 
==Lịch sử ==
Đại để khi xem xét các thuyết có thể thấy Cô Trúc thời kỳ đầu Ân Thương là bộ lạc nguyên thủy. Nước Cô Trúc hưng thịnh trong thời Ân Thương, suy tàn trong thời Tây Chu, bị diệt vong trong thời Xuân Thu. Từ lập quốc đến khi diệt vong tồn tại khoảng 940 năm (ước từ khoảng năm 1600 TCN tới năm 664/660 TCN). Có thể phân chia ra hai thời kỳ, thời kỳ thứ nhất kéo dài khoảng 555 năm (từ 1600 TCN tới 1046 TCN), thời gian tồn tại của nhà Thương, tại phương bắc Cô Trúc là nước chư hầu trọng yếu của triều đại này; thời kỳ thứ hai khoảng 385 năm (từ 1046 TCN tới 664/660 TCN) là nước chư hầu khác họ của nhà Chu. Sau khi bị nước Yên khống chế thì địa vị chính trị của Cô Trúc bị hạ thấp. Các vị quân chủ của Cô Trúc có quan hệ mật thiết với các vị quân chủ của nhà Thương, có thể giải thích theo 3 lý do sau:
* Thứ nhất, các vị quân chủ của nước Cô Trúc mang họ Tử trong thị tộc Mặc Thai, trong khi các vị vua của nhà Thương cũng mang họ Tử, đều từ phía đông bắc Trung Nguyên di cư xuống phía nam và tây nam.
* Thứ hai, các mối quan hệ nhân thân.
* Thứ ba, sự an toàn ở khu vực biên cương là nhu cầu cấp thiết với các triều đại, vì thế cần những người có quan hệ huyết thống gần gũi để giao phó.
 
===Sơ kỳ ===
Người Cô Trúc nguyên là thị tộc [[Mặc Thai]], có quan hệ họ hàng gần với tổ tiên của các vua [[nhà Thương]] và cùng đều mang họ Tử. Bộ lạc Thương sau đó di dời xuống phía nam, tiến vào Trung Nguyên. Liên minh bộ lạc dần dần bị phân li, mở ra thời kỳ độc lập của thị tộc này. Sau đó người của thị tộc Mặc Thai di chuyển tới khu vực [[Yên Sơn]] để sinh sống như những người [[du mục]], tại đây họ phát triển qua giai đoạn hỗn hợp của cả nông nghiệp lẫn chăn thả gia súc theo kiểu du mục, sau đó định cư tại khu vực ngày nay thuộc địa cấp thị [[Triều Dương]], tỉnh [[Liêu Ninh]]. Ngày Bính Dần tháng 3 thời [[Thành Thang|Thương Thang]] được phong thành Cô Trúc, theo [[Hạ Thương Chu đoạn đại công trình]] thì sự kiện này ước chừng diễn ra khoảng năm 1600 TCN.
 
===Hậu kỳ ===
Cuối thời [[nhà Chu|Tây Chu]], nước Cô Trúc tiến vào giai đoạn cuối cùng trong sự phát triển của mình, ở phía tây bộ lạc [[Lệnh Chi]] (Li Chi, nay là phía tây [[Thiên An]]) nổi lên, phía bắc và đông bắc có người [[Sơn Nhung]] cận kề. Giới hạn nước Cô Trúc khi đó ở phía tây là ven Loan hà, Thanh Long hà, phía bắc đạt tới khu vực sau này là [[Vạn Lý trường thành]] thời [[nhà Minh]], phía đông giáp [[Sơn Hải Quan]], phía nam giáp vịnh Bột Hải, trên bản đồ thấy rõ là nhỏ đi. Năm [[664 TCN]] (theo Quản tử thì là năm 660 TCN), [[Chu Huệ Vương]] năm thứ 13), người [[Sơn Nhung]] xuất binh công phá nước [[Yên (nước)|Yên]]. Quân chủ nước Yên là [[Yên Trang công]] sai sứ sang nước [[Tề (nước)|Tề]] cầu viện, [[Tề Hoàn công]] lấy cớ cứu Yên xuất binh chinh phạt Sơn Nhung. Tề Hoàn công cũng nhân cơ hội chinh phạt [[Sơn Nhung]] để tiêu diệt nước Cô Trúc đang suy tàn. Kết quả là nước Cô Trúc không còn tồn tại trong lịch sử nữa.
 
==Quân chủ Cô Trúc ==
18.958

lần sửa đổi