Khác biệt giữa các bản “Giả kim thuật”

n
tên bài chính, replaced: Hi Lạp → Hy Lạp (5)
n (Thay thế ‘(?mi)\{\{(Liên kết chọn lọc|Link FA)\|.+?\}\}\n?’ bằng ‘’.: deprecated template)
n (tên bài chính, replaced: Hi Lạp → Hy Lạp (5))
Ý nghĩ điều chế được [[vàng]] từ [[kim loại]] thường đã nảy nở từ ngày xưa khi mà sự phát triển của [[thương mại]] đã dần dần biến vàng thành thứ kim loại quý giá nhất mang đến tiền bạc và quyền lực cho con người.
 
Từ rất lâu trước [[Công Nguyên|Công nguyên]], ở [[Ai Cập]], [[Ấn Độ]], [[Trung Quốc]] và [[Hy Lạp|Hi Lạp]] cổ đại người ta đã biết rằng vàng có thể hỗn hợp với [[bạc]], [[đồng]] và nhiều thứ kim loại khác. Thế là xuất hiện vàng nhân tạo bằng cách đưa thêm đồng và các kim loại khác vào vàng. Ngoài ra người ta còn trộn đồng màu đỏ và [[thiếc]] màu trắng thành hợp kim đồng-thiếc có màu giống vàng. Điều đó chừng như xác nhận rằng có thể biến các kim loại khác thành vàng.
 
Năm 296, [[Hoàng đế La Mã]] buộc phải ra sắc lệnh hủy bỏ những cách điều chế vàng nói trên vì vàng giả tràn ngập thị trường. Để trốn tránh lệnh truy nã, các nhà giả kim thuật chạy từ Ai Cập sang [[Babylon]], [[Syria]] và dựng các phòng thí nghiệm kiên trì biến kim loại thường thành vàng.
 
Khát vọng điều chế được vàng của các nhà giả kim thuật có thể tồn tại dai dẳng như vậy vì họ chịu ảnh hưởng [[học thuyết của Aristotle]], một nhà triết học cổ HiHy Lạp sống ở thế kỷ thứ 4 trước Công Nguyên.
 
Trong quá trình nghiên cứu, các nhà giả kim thuật đã góp phần tìm ra các hợp chất mới: kim loại (Bi, Zn), muối (Hg, NH<sub>4</sub><sup>+</sup>,…), các axit vô cơ H<sub>2</sub>SO<sub>4</sub>, HCl, HNO<sub>3</sub>, nước cường thủy,... và hoàn thiện nhiều kĩ thuật thí nghiệm quan trọng: nung, chưng cất, hòa tan, lọc, bay hơi, kết tinh, thăng hoa,...
 
== Giả kim thuật của người Ả Rập ==
Vào thế kỷ thứ 8, sau khi người [[Ả Rập]] chinh phục Ai Cập, Syria và hàng loạt các quốc gia ở vùng [[Cận Đông]] thì trung tâm khoa học đã chuyển về Ả Rập. Vào đầu thế ký thứ 9, họ đã có giả kim thuật riêng và khác với giả kim thuật của người HiHy Lạp.
 
Các nhà giả kim thuật Ả Rập không tiếp thu một cách đơn thuần thuyết Aristotle mà còn giải thích chúng theo ý họ và bổ sung các khái niệm mới. Họ giải thích sự xuất hiện của các kim loại trong thiên nhiên là do 2 chất ban đầu là lưu huỳnh và thủy ngân vì:
 
== Giả kim thuật của người Trung Quốc ==
Giả kim thuật của người [[Trung Quốc]] khác hẳn với giả kim thuật của người HiHy Lạp. Trong khi người HiHy Lạp cố biến kim loại thường thành vàng thì người Trung Quốc cố tìm kiếm thuốc trường sinh bất lão. Vì thế giả kim thuật Trung Quốc có tên gọi là [[luyện đan]], dựa trên cơ sở học thuyết thần tiên. Các đạo gia chia luyện đan thành [[ngoại đan]] và [[nội đan]]. Ngoại đan là dùng lửa luyện các khoáng chất như chì, thủy ngân trong các lò đặc biệt biến chúng thành đan dược nuốt vào có thể thành tiên hay trường sinh bất lão.
 
Thứ được các nhà giả kim thuật Trung Quốc ưa sử dụng nhất là [[chu sa|đan sa]], [[công thức hóa học]] là HgS, luyện trong các lò thành vàng, uống vàng đó sẽ trường sinh bất lão. Các đạo sĩ cho rằng đan sa có màu đỏ là màu cao quý, có khả năng chữa bách bệnh, ngoài ra khi đun nóng còn phân tích thành thủy ngân là thứ kim loại kì lạ và có những đặc điểm lí thú. Chính vì thế mà đan sa được xem là [[tiên dược]] để luyện [[thuốc trường sinh]].