Mở trình đơn chính

Các thay đổi

n
Khi đó tướng tài [[Nam Tống]] không thể không nói tới [[Mạnh Củng]]. [[Mạnh Củng]] ở Tương Dương, chiêu mộ trai tráng 15.000 người lập thành quân Trấn Bắc, được phong chức đô thống chế Tương Dương. Củng còn đến Hoàng châu tu bổ thành trì, chiêu mộ quân dân, đắp lũy giữ thành ngăn chặn quân Mông Cổ. Người Mông lại sai [[Vương Tiếp]] đến [[Lâm An]] trách cứ việc phản bội minh ước, Tống đình không trả lời được phải sai sứ đến tạ lỗi. Từ đó Mông Cổ chuẩn bị kế hoạch xâm lược [[Nam Tống]].
 
Năm [[1236]], lấy cớ Tống đình bội ước, [[Oa Khoát Đài]] phân quân tam lộ đánh xuống phía nam, lần lượt chiếm Tương Dương, Tùy châu. Trong khi đó tại triều đình, Sử[[Trịnh TungThanh Chi]] và [[Kiều Hành Giản]] là Tả, Hữu thừa tướng, tiến cử Ngụy Liễu Ông nắm giữ việc quân, thông lĩnh quân Kinh Hồ và Giang Hoài. Dùng Ngô Tiềm, [[Triệu Thiện Tương]], [[Mã Quang Tổ]] vào các chức vụ quan trọng.
 
Quân Mông Cổ đánh bại quân của Toàn Tử Tài ở Đường châu. Triệu Phạm đưa quân đến cứu và đẩy lui địch, Tào Hữu giết tướng Mông [[Uông Thế Hiển]]. Hai tể tướng sợ Ngụy Liễu Ông lập công đe dọa đến chức của mình nên triệu ông về kinh<ref>''[[Tục tư trị thông giám]]'', [[:zh:s:續資治通鑑/卷168|quyển 168]]</ref>, ít lâu sau Ngụy Liễu Ông qua đời.
 
Tháng 3 ÂL năm [[1236]], bọn Nam quân dưới trướng Triệu Phạm gồm [[Vương Mẫn]], [[Lý Bá Uyên]] liên thủ đốt phá và cướp bóc Tương Dương rồi đầu hàng Mông Cổ. Tháng 5 ÂL, Tống đình bãi chức [[Triệu Phạm]], dùng Triệu Quỳ làm chế trí sứ Hoài Đông lo chống giữ với người Mông. Ở Tương Hán, phủ Đức An, Tùy châu và Kim Môn quân bị mất. Ở phía tây, [[Tào Hữu Văn]] tử trận tại Lợi châu, toàn Tây Thục kể như mất chỉ trong chưa đến một tháng. Tướng Mông [[Khoát Đoan]] vào Thành Đô và đánh lên Văn châu. Tin bại trận lũ lượt bay về Lâm An. Hai vị thừa tướng đều phải bãi chức, lấy [[Thôi Dữ Chi]] làm Hữu thừa tướng, [[Sử Tung Chi]] làm chế trí sứ Hoài Tây chi viện cho Quang Châu, Triệu Quỳ cứu Hợp Phì. Đầu năm [[1237]], [[Mạnh Củng]] cùng [[Trương Thuận]] phá 24 trại Mông Cổ, giải vây cho Giang Lăng. Quân Tống cũng thắng lớn ở Chân châu, giết được nhiều quân Mông, tình hình bắt đầu chuyển biến có lợi cho quân Tống.
 
Năm [[1237]], Lý Tông cải nguyên là Gia Hi, lại dùng [[Kiều Hành Giản]] làm Tả thừa tướng, [[Trịnh Thanh Chi]] tri Xu mật kiêm Tham chính. Trong khi đó quân Mông Cổ đại thắng ở Tây Vực và [[châu Âu]] thanh thế lại lớn mạnh, [[Oa Khoát Đài]] liền chuẩn bị đánh xuống phía nam lần nữa<ref name="TTTTG169">''[[Tục tư trị thông giám]]'', [[:zh:s:續資治通鑑/卷169|quyển 169]]</ref>. [[Mạnh Củng]] từ Giang Lăng về cứu Hoàng châu. [[Đỗ Cảo Kiên]] đánh lui quân Mông tại An Phong quân. [[Sử Trung Chi]] lúc đó nghe tin [[Sát Hãn]] đánh Lư châu nên điều [[Đỗ Cảo]] quân đến cứu. Quân Mông Cổ bị [[Đỗ Cảo]] dùng cách đánh hỏa thiêu rụi hết giàn giáo, bèn dùng pháo đánh thành. Pháo bắn tới gặp mái vẩy của quân Tống thì bật ngược lại chỗ quân Mông. [[Đỗ Cảo]] thừa cơ truy kích và đẩy lui được chúng. Triều đình phong Cảo làm chế trí sứ Hoài Tây, [[Mạnh Củng]] làm chế trí sứ Kinh Hồ, chuẩn bị lấy lại Kinh Tương.