Khác biệt giữa các bản “Âm dương”

Âm dương là một trong những học thuyết tiêu biểu của nền văn minh Trung Hoa cổ đại và lan ra nhiều khu vực như Nhật Bản, Việt Nam, Triều Tiên.
 
=== Trừu tượng hóa âm dương ==Từ việc khái niệm âm dương được dùng để chỉ những cặp đối lập cụ thể ở trên, người xưa tiến thêm một bước là dùng nó để chỉ những [[cặp đối lập]] [[trừu tượng]] hơn ví dụ như "lạnh-nóng", rồi cặp "lạnh-nóng" lại là cơ sở để suy tiếp như về [[phương hướng]]: "phương bắc" lạnh nên thuộc âm, "phương nam" nóng nên thuộc dương; về [[thời tiết]]: "mùa đông" lạnh nên thuộc âm, "mùa hè" nóng nên thuộc dương; về [[thời gian]]: "ban đêm" lạnh nên thuộc âm, "ban ngày" nóng nên thuộc dương. Nếu tiếp tục suy diễn nữa thì: đêm thì tối nên "tối" thuộc âm, ngày thì sáng nên "sáng" thuộc dương; tối có màu đen nên "màu đen" thuộc âm, ngày sáng thì nắng "đỏ" nên "màu đỏ" thuộc dương.
=== Trừu tượng hóa âm dương ===
[[Tập tin:Phonthuc.jpg|nhỏ|250px|Hình 2: Thờ sinh thực khí nam và nữ của đồng bào dân tộc [[Chăm]]. Cột hình tròn (dương) biểu hiện cho nam, hình bệ vuông (âm) biểu hiện cho nữ.]]
Từ việc khái niệm âm dương được dùng để chỉ những cặp đối lập cụ thể ở trên, người xưa tiến thêm một bước là dùng nó để chỉ những [[cặp đối lập]] [[trừu tượng]] hơn ví dụ như "lạnh-nóng", rồi cặp "lạnh-nóng" lại là cơ sở để suy tiếp như về [[phương hướng]]: "phương bắc" lạnh nên thuộc âm, "phương nam" nóng nên thuộc dương; về [[thời tiết]]: "mùa đông" lạnh nên thuộc âm, "mùa hè" nóng nên thuộc dương; về [[thời gian]]: "ban đêm" lạnh nên thuộc âm, "ban ngày" nóng nên thuộc dương. Nếu tiếp tục suy diễn nữa thì: đêm thì tối nên "tối" thuộc âm, ngày thì sáng nên "sáng" thuộc dương; tối có màu đen nên "màu đen" thuộc âm, ngày sáng thì nắng "đỏ" nên "màu đỏ" thuộc dương.
 
Từ cặp "mẹ-cha" (nữ-nam, cái-đực) có thể suy ra rằng:
* Giống cái có khả năng mang thai (tuy một mà hai), nên về loại số, thì [[số chẵn|số "chẵn"]] thuộc âm; giống đực không có khả năng ấy, một là một, nên [[số lẻ|số "lẻ"]] thuộc dương. Điều này giải thích tại sao [[quẻ]] dương là một vạch dài (|), còn quẻ âm là hai vạch ngắn (:).
* Về hình khối thì [[hình vuông|khối vuông]] ổn định, tĩnh, tỷ lệ giữa cạnh và [[chu vi]] là 1:4, số 4 là số chẵn, chính vì thế mà khối vuông thuộc âm; [[hình cầu]] không ổn định, động, tỷ lệ giữa đường kính và chu vi là 1:3 (số <math>\pi</math>), số 3 là số lẻ, chính vì vậy mà khối cầu thuộc dương (xem Hình 2).
 
Tuy vậy, các cặp đối lập chưa phải là nội dung chính của triết lý âm dương. Triết lý âm dương không phải là triết lý về các cặp đối lập. Tất cả các [[dân tộc]] trên [[thế giới]] đều có các phạm trù đối lập nhau, [[ngôn ngữ]] của tất cả các dân tộc đều có [[từ trái nghĩa]]. Điều quan trọng của triết lý âm dương chính ở '''bản chất''' và '''quan hệ''' của hai khái niệm âm dương. Đó chính là điều khác biệt triết lý âm dương với các triết lý khác.
Người dùng vô danh