Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Trận thành Hà Nội (1882)”

n
→‎Phía Việt Nam: đánh vần, replaced: chính qui → chính quy
nKhông có tóm lược sửa đổi
n (→‎Phía Việt Nam: đánh vần, replaced: chính qui → chính quy)
Lực lượng phòng thủ tại Hà Nội, theo bá tước De Kergaradec, lãnh sự đầu tiên của Pháp tại Hà nội từ năm 1875, trong báo cáo về các lực lượng An nam Bắc Kỳ năm 1880, cho biết<ref>Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung hoa- 1847 - 1885, Yoshiharu Tsuboï</ref>: quân đội Việt nam ứng trực tại Bắc kì không chia ra kị binh hay pháo binh, mà chỉ gồm toàn bộ binh. Quân An Nam tại Bắc Kỳ được chia làm hai loại
a) Binh lính từ Kinh đô Huế, được coi là ưu tú nhất nước. Hai tiểu đoàn được đặt dưới quyền của Hoàng kế Viêm đóng trong tỉnh Sơn tây. Một nghìn năm trăm lính khác được phân cho các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Nội và Hải Dương. Lính từ kinh đô tới phục vụ Bắc Kỳ lên đến 2500 người
b) Lính của các tỉnh, trên giấy tờ có khoảng 60.000 quân; nhưng trên thực tế nhiều lắm chỉ có được một phần tư (15.000). Ngoài ra còn có 5000 lính lệ của phủ huyện, và 5000 lính phu trạm. Ngoài ra còn phải kể đến những lực lượng quân sự khác đồn trú tại Bắc Kỳ như quân Cờ đen có từ 1500 tới 1600 quân, dũng cảm và vũ trang tốt hơn quân chính quiquy An Nam.
 
Về mặt vũ khí: hai phần ba lính không có súng, mà chỉ được trang bị một cây giáo hoặc gươm. Một phần ba có súng, nhưng phần nhiều là những khẩu hoa mai cũ kĩ; người ta thấy có một trăm khẩu súng nhồi thuốc trong thành Hà Nội.