Khác biệt giữa các bản “Trận Salamis”

n
không có tóm lược sửa đổi
n
|notes=<sup>a</sup> [[Herodotus]] gives 378 ships of the alliance, but his numbers add up to 371.<ref name = VIII48/><br /> <sup>b</sup> As suggested by several ancient sources; <br /> <sup>c</sup> Modern estimates
}}
'''Trận Salamis''' ([[tiếng Hy Lạp cổ]]: Ναυμαχία τῆς Σαλαμῖνος, ''Naumachia tēs Salaminos''), là một trận đánh hải quân quyết địnhchiến giữa các thành bang [[Hy Lạp]] và [[đế quốc Ba Tư]] vào năm 480 trước Công nguyênTCN ở một [[eo biển]] giữa [[Piraeus]] và [[đảo Salamis]], một hòn đảo ở [[vịnh Saron]] gần [[Athena]]. ChiếnTrận thắngđánh củađánh ngườidấu Hyđỉnh Lạpđiểm đãcủa đánhcuộc dấuxâm mộtlược Hy Lạp lần bướcthứ ngoặthai của chiếnĐế dịch,quốc dẫnBa đến thấtvừa bạimới cuốibắt chungđầu cuộcvào củamùa quânxuân Banăm đó.
 
Một nhóm lính Hy Lạp nhỏ đã chốt ở đèo Thermoplylae để ngăn chặn bước tiến của Ba Tư, trong khi hải quân Đông minh (chủ yếu là tàu Athena) giao chiến với hải quân Ba Tư ở eo biển Artemisium nằm gần đó. Ở [[trận Thermopylae]], nhóm quân chặn hậu Hy Lạp bị tiêu diệt hoàn toàn còn hải quân Hy Lạp cũng phải hứng chịu tổn thất nặng nề trong [[trận Artemisium]] và phải rút lui sau khi nhận được tin từ Thermopylae. Thất bại này cho phép quân Ba Tư chiếm đóng các xứ [[Boeotia]] và [[Attica]]. Quân Đồng minh chuẩn bị cho việc phòng thủ eo đất Corinth trong khi hải quân rút ra gần đảo Salamis
Năm 490 TCN hoàng đế Ba Tư là [[Darius I của Ba Tư|Darius Đại đế]] mang quân sang đánh Hy Lạp. Trong [[trận Marathon]], quân Ba Tư bị thua rút chạy về nước, sửa soạn phục thù trong mười năm. Đến năm 480 TCN, con trai của Darius là [[Xerxes I của Ba Tư|Xerxes Đại đế]] đưa đại quân đến đánh Hy Lạp. Nước Hy Lạp lúc đó do Themistocles đứng đầu. Mùa xuân năm 480 TCN, quân Ba Tư tiến vào [[Địa Trung Hải]] và tấn công Hy Lạp. Mục đích ban đầu là đánh chiếm thành Athena. Người đứng đầu nhà nước Hy Lạp lệnh cho tất cả các thành phố cảng vùng biển phải dựng các chướng ngại vật dọc theo bờ biển để ngăn quân đối phương đổ bộ và cho tập trung tất cả quân đội và chiến thuyền tại eo biển Salamis.
 
Đoàn chiến thuyền của Ba Tư gồm 1200 chiếc, chạy dọc theo bờ biển Thessali tiến xuống quần đảo ở phía Bắc mỏm Eubée, nơi có mặt những chiến thuyền tiên phong của Hy Lạp... Xerxes cho dàn thuyền chiến thành 8 hàng trong đêm tối nhưng khi bố trí xong thì gần đến sáng, bỗng có cơn giông ập tới, phá tan thuyền chiến Ba Tư, đánh giạt hàng trăm chiếc vào bờ và bị chìm một số. Khi tập hợp lại chỉ còn không đầy 800 chiếc. Xerxes liền cắt cử Nữ hoàng xứ Halicarnass [[Artemisia I của Caria|Artemisia I]] - đồng thời cũng là nữ tướng chỉ huy 5 chiến thuyền bất ngờ tấn công vào phía Hy Lạp. Hạm đội Hy Lạp bị thua to khi trời gần sáng. Artemisia bắt được một viên tướng Hy Lạp, sai đem buộc vào mũi thuyền, cắt cổ cho máu chảy xuống biển để tạ ơn Thần Biển! Tiếp đó thừa thắng xông lên, [[Iran|Ba Tư]] kéo đại quân xuống phía đông Eubée. Trong khi đó quân Hy Lạp nung nấu ý chí phục thù, rồi nhân một đêm tối trời, họ phản công lại quân Ba Tư. Quân Ba Tư chủ quan khinh địch không kịp trở tay, bị đắm ba chục chiếc thuyền phải tháo chạy ra biển và liền bị bão giông nổi lên làm đắm nhiều chiếc khác. Sau ba ngày, trời yên, bể lặng, quân Ba Tư kéo trở lại mỏm Eubée. Nhưng họ lại bị thua và phải rút lui về cảng Sêpia. Trong lúc Hy Lạp nhận được thêm viện binh liền truy kích quân Ba Tư. Trận cuối cùng nổ ra ở Salamine, quân Hy Lạp đã thắng, thuyền chiến Ba Tư đắm gần hết, một số bị bắt làm tù binh. Hoàng đế Xerxes hạ lệnh giết hết những người chỉ huy và thủy thủ bỏ chạy. Bên Hy Lạp cũng giết hết các tù binh, trong số đó có Đô đốc là Hoàng tử Ariabigne (Ariabinhơ) là em trai của chính Xerxes.
 
Trận thắng của Hy Lạp đã làm tan vỡ mộng tưởng chinh phục Châu Âu của Ba Tư. Đây là trận thủy chiến nổi tiếng trong lịch sử cổ đại và đã đưa [[Themistocles]] lên hàng danh tướng thế giới thời cổ đại.
 
== Bối cảnh ==