Khác biệt giữa các bản “Đinh Liệt”

không có tóm lược sửa đổi
(Theo dòng họ Đinh thôn Phúc Long xã Minh Tiến huyên Ngọc Lặc Thanh Hóa)
'''Đinh Liệt''' ([[chữ Hán]]: 丁列; ?-[[1471]]) là công thần khai quốc nhà [[Lê sơ]] trong [[lịch sử Việt Nam]], người thôn Phúc Long xã Minh Tiến Huyện Ngọc Lặc Thanh Hóa.
 
Gia phả họ Đinh Danh ở [[Thái Bình]] nói rằng ông là dòng dõi của Nam Việt vương [[Đinh Liễn]] con vua [[Đinh Tiên Hoàng]].
 
Đinh Liệt cùng anh ruột là [[Đinh Lễ]] là cháu gọi [[Lê Thái Tổ]] bằng cậu. Ông khi còn trẻ thường đi theo cận vệ cho Lê Lợi.
Những ngày đầu [[khởi nghĩa Lam Sơn]], ông theo Lê Lợi chiến đấu vùng núi chí Linh trải qua nhiều gian khổ.
 
Năm 1424, quân Lam Sơn chiếm được thành Trà Lân, sắp đánh thành [[Nghệ An]]. Các tướng Minh mang quân thuỷ bộ cùng đến. Lê Lợi chia cho Đinh Liệt 1000 quân sai đi theo đường tắt tranh tiên, chiếm trước huyện Đỗ Gia (nay là huyện Hương Sơn). Lê Lợi nhửđích địchthân vàocầm đại phụcquân kíchgiữ đểchỗ Đinhhiểm Liệtyếu. đánhBa tậpbốn hậuhôm sau, Lê Lợi dùng kế nhử địch vào nơi phục kích, quân Minh thuabị giết hàng vạn tongười.
 
Năm 1427, quân Lam Sơn vây Đông Quan ([[Hà Nội]]), anh ông là tướng Đinh Lễ bị tử trận. Lê Lợi bèn phong ông làm Nhập nội thiếu uý Á hầu.
Cuối năm 1427, Liễu Thăng mang viện binh sang, ông được lệnh cùng [[Lê Sát]] mang quân lên Chi Lăng, góp sức diệt địch, chém được Liễu Thăng, đánh tan đạo viện binh.
 
Đầu năm 1428 ông được xếp vào chức thủ quân thiết đột. Trong số những công thần theo Lê Lợi từ hội thề Lũng Nhai thì Đinh Liệt được xếp hàng đầu, phong làm Suy trung Tán trị hiệp mưu bảo chính công thần Vinh lộc đại phu tả kim ngô đại tướng quân, tước Thượng tri tự.
 
Tháng 2, vua Lê Thái Tổ định các mức khen thưởng cho những hỏa thủ và quân nhân của quân Thiết đột có công lao siêng năng khó nhọc ở Lũng Nhai gồm 121 người, Đinh Liệt công hạng nhất, ban quốc tính, phong Suy trung tán trị hiệp mưu bảo chính công thần, Vinh lộc đại phu, tả Kim ngô vệ đại tướng quân, tước Thượng trí tự. <ref>Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú, Nhân vật chí, Nhà xuất bản giáo dục, 2006</ref>
 
==Công thần thời bình==
 
===Khi thăng khi giáng===
Năm 1429, khi khắc biển công thần, Đinh Liệt được phong làm Đình Thượng hầu.<ref><ref>Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú, Nhân vật chí, Nhà xuất bản giáo dục, 2006</ref>
</ref>
 
Năm 1432, ông được phong làm Nhập nội tư mã, tham dự triều chính.<ref>Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú, Nhân vật chí, Nhà xuất bản giáo dục, 2006</ref>
 
 
Tháng 5 năm 1434 đời [[Lê Thái Tông]] có quân [[Chiêm Thành]] vào cướp phá, ông được lệnh lĩnh các quân [[Nghệ An]], Tân Bình, [[Thuận Hoá]] đánh địch. QuânĐinh Liệt được lệnh vua thống đốc các đạo quân Nghệ An, Tân An, Thuận Hóa đi các vùng Tân An, Thuận Hóa đi tuần tiễu. Khi đến HoáHóa Châu, vuagặp người Man trưởng Hóa Châu là Đạo Dụ bị Đạo Man đánh, Đinh Liệt đưa quân đánh giúp, bắt hơn nghìn người, mấy chục Chiêmcon vộivoi rútđem về.
 
Tháng 11, 1441, vua Lê Thái Tông lập hoàng tử Bang Cơ làm Hoàng Thái tử, sai Lê Liệt, lúc ấy là Nhập nội Đô đốc mang sắc mệnh lập làm Hoàng thái tử.
Năm 1432, ông được phong làm Nhập nội tư mã, tham dự triều chính.
 
{{cquote|''Đặt Thái tử để vững gốc rễ, lập con đích để chính danh phận. Đó là mưu xa của xã tắc, kế lớn của quốn gia. Hoàng tử Bang Cơ thể chất vàng ngọc, tư thái anh minh, vừa có uy vọng của một bậc quân vương, lại đúng danh phận là con đích tôn quý. Vậy sai Nhập nội đại đô đốc Lê Liệt mang sắc mệnh lập làm Hoàng thái tử''|||Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, chương X}}
Tháng 5 năm 1434 đời [[Lê Thái Tông]] có quân [[Chiêm Thành]] vào cướp phá, ông được lệnh lĩnh các quân [[Nghệ An]], Tân Bình, [[Thuận Hoá]] đánh địch. Quân Lê đi đến Hoá Châu, vua Chiêm vội rút về.
 
Tháng 8, 1442, vua Lê Thái Tông băng ở Lệ Chi Viên, ngày 12, đại thần Nguyễn Xí, Lê Thụ, Trịnh Khả nhận di mệnh cùng với Lê Liệt, Lê Bôi tôn Hoàng thái tử Bang Cơ lên ngôi. Lúc ấy, vua mới 2 tuổi. Lấy năm sau làm Thái Hòa năm thứ 1. <ref>Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, chương X, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà nội, 1993</ref>
Năm 1444 đời [[Lê Nhân Tông]], vua còn nhỏ, có người vu cáo ông, thái hậu Nguyễn Thị Anh cầm quyền nhiếp chính sai giam cả nhà ông dưới hầm. Nhờ có người trong hoàng tộc là Lê Khắc Phục và công chúa Ngọc Lan xin hộ, đến tháng 6 năm 1448 ông mới được tha ra, nhưng vợ con vẫn bị giam. Đến tháng năm 1450 gia đình ông mới được thả.
 
958

lần sửa đổi