Khác biệt giữa các bản “Đinh Liệt”

 
===Khi thăng khi giáng===
Năm 1429, khi khắc biển công thần, Đinh Liệt được phong làm Đình Thượng hầu.<ref><ref>Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú, Nhân vật chí, Nhà xuất bản giáo dục, 2006</ref>
</ref>
 
Năm 1432, ông được phong làm Nhập nội tư mã, tham dự triều chính.<ref>Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú, Nhân vật chí, Nhà xuất bản giáo dục, 2006</ref>
 
Tháng 8, 1442, vua Lê Thái Tông băng ở Lệ Chi Viên, ngày 12, đại thần Nguyễn Xí, Lê Thụ, Trịnh Khả nhận di mệnh cùng với Lê Liệt, Lê Bôi tôn Hoàng thái tử Bang Cơ lên ngôi. Lúc ấy, vua mới 2 tuổi. Lấy năm sau làm Thái Hòa năm thứ 1. <ref>Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, chương X, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà nội, 1993</ref>
 
Năm 1444 đời [[Lê Nhân Tông]], vua còn nhỏ, có người vu cáo ông, thái hậu Nguyễn Thị Anh cầm quyền nhiếp chính sai giam cả nhà ông dưới hầm. Nhờ có người trong hoàng tộc là Lê Khắc Phục và công chúa Ngọc Lan xin hộ, đến tháng 6 năm 1448 ông mới được tha ra, nhưng vợ con vẫn bị giam. Đến tháng 3 năm 1450 gia đình ông mới được thả.<ref>Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, quyển XII, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1993</ref>
 
Trong niên hiệu Diên Ninh của Lê Nhân Tông (1454-1459), ông được giữ chức thái bảo.
 
===Trọng thần thời Lê Thánh Tông===
Ngày 3, tháng 10 năm 1459, Lạng Sơn Vương Lê Nghi Dân đang đêm bắc thang, chia quân ba đường, trèo thành cửa đông, lẻn vào cung cấm. Vua Lê Nhân Tông và Tuyên Từ hoàng hậu bị hại. Ngày mồng 7, tháng mười năm đó Lê Nghi Dân tự lập, lên ngôi hoàng đế.
Năm 1459, anh vua Nhân Tông là [[Lê Nghi Dân]] giết vua cướp ngôi. Ông cùng [[Nguyễn Xí]], Lê Lăng cầm đầu các tướng làm binh biến lật đổ Nghi Dân đưa hoàng tử Tư Thành lên ngôi, tức là vua [[Lê Thánh Tông]]. Tháng 6 năm 1460 ông được phong chức Khai phủ nghi đồng tam ty, Bình chương quân quốc trọng sự, Nhập nội thái phó Á quận hầu. Trong năm đó ông liên tiếp được gia phong.
 
Ngày mồng 6, tháng 6 năm 1460, Đinh Liệt lúc ấy giữ chức Khai phủ nghi đồng tam ty Thái phó bình chương quân quốc trọng sự Á quận hầu, cùng với khai phủ nghi đồng tam ty nhập nội kiểm hiệu thái phó bình chương quân quốc trọng sự Á quận hầu Nguyễn Xí, Nhập nội kiểm hiệu bình chương quân quốc trọng sự Á thượng hầu Lê Lăng, tư mã tham dự triều chính Đình thượng hầu Lê Niệm, Tổng tri ngự tiền hậu quân Á hầu Lê Nhân Thuận, Tổng tri ngự tiền trung quân Quan nội hầu Lê Nhân Khoái, tổng tri ngự tiền thiện trạo doanh quân Quan phục hầu Trịnh Văn Sái, Thiêm tri Bắc đạo quân dân bạ tịch Trịnh Đạc, Điện tiền ty đô chỉ huy Nguyễn Đức Trung, thiết đột tả quân đại đội trưởng Nguyễn Yên. Nhập nội đại hành khiển Lê Vĩnh Trường, Điện tiền ty chỉ huy Lê Yên, Lê Giải cùng bàn với nhau lật đổ Lạng Sơn Vương Lê Nghi Dân.
 
Sau buổi chầu, Nguyễn Xí, Đinh Liệt cầm quân giết Phạm Đồn, Phan Ban, giáng Nghi Dân làm Lệ Đức Hầu, rước hoàng tử Tư Thành lên ngôi, tức vua Lê Thánh Tông.<ref>Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, quyển XII </ref>
 
Tháng 10, năm 1460, vua Lê Thánh Tông phong ông làm Lân Quận Công.<ref>Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ, quyển XII </ref>
 
Tháng 12 năm 1460, ông cùng Lê Lăng đi đánh tù trưởng họ Cầm làm loạn, được thăng lên chức thái sư phụ chính.<ref>Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú, Nhân vật chí, Nhà xuất bản giáo dục, 2006</ref>
 
Năm 1465, [[Nguyễn Xí]] mất, Đinh Liệt làm quan đầu triều, từ đó thường quyết định nhiều việc lớn của triều đình, được vua và các quan lại rất tôn trọng.
958

lần sửa đổi