Khác biệt giữa các bản “Minh Thần Tông”

không có tóm lược sửa đổi
| thời gian của niên hiệu =
| cha = [[Minh Mục Tông]]
| mẹ = [[Hiếu Định thái hậu|Hiếu Định hoàng hậu]]
|nơi mất = [[Tử Cấm Thành]], [[Bắc Kinh]]
|nơi an táng = [[Định Lăng]], [[Minh Thập Tam Lăng]]
'''Minh Thần Tông''' ([[chữ Hán]]: 明神宗, [[4 tháng 9]], [[1563]] – [[18 tháng 8]], [[1620]]) hay '''Vạn Lịch Đế''' (萬曆帝), là [[Hoàng đế]] thứ 14 của [[nhà Minh]]. Ông trị vì trong 48 năm, lâu dài nhất trong các vị Hoàng đế nhà Minh và triều đại của ông cũng chứng kiến sự suy tàn dần dần của nhà Minh.
 
Thuở nhỏ khi mới lên ngôi, ông được [[Hiếu Định hoàng hậu|Lý Tháithái hậu]] và Thái sư [[Trương Cư Chính]] [[nhiếp chính]], tuy nhiên trong thời gian này ông luôn lo sợ bị mẹ phế bỏ để đưa người em trai lên thay mỗi khi phạm lỗi. Sau cái chết của Trương Cư Chính, Vạn Lịch Đế bắt đầu tự mình chấp chính, sức mạnh của đế quốc vẫn tiếp tục phát triển, nhưng sau 18 năm ông bắt đầu chán nản và lao vào cuộc sống trụy lạc xa hoa, hoang dâm vô độ trong 20 năm cuối đời, thậm chí từ chối lên triều để điều hành công việc của đất nước. Lối sống này giống như của ông nội ông, [[Minh Thế Tông]] Gia Tĩnh hoàng đế, người đã từ bỏ trách nhiệm với đất nước để đi luyện đan dược trường sinh. Chính lối sống đó đã hủy hoại hệ thống cai trị của nhà Minh và đặt gánh nặng lên quốc khố và đời sống kinh tế của người dân, khi các cuộc nổi loạn của nông dân bắt đầu diễn ra và dẫn đến sự suy vong của nhà Minh.
 
Lối sống này giống như của ông nội ông, [[Minh Thế Tông]] Gia Tĩnh hoàng đế, người đã từ bỏ trách nhiệm với đất nước để đi luyện đan dược trường sinh. Chính lối sống đó đã hủy hoại hệ thống cai trị của nhà Minh và đặt gánh nặng lên quốc khố và đời sống kinh tế của người dân, khi các cuộc nổi loạn của nông dân bắt đầu diễn ra và dẫn đến sự suy vong của nhà Minh.
 
== Tiểu sử ==
 
== Vạn Lịch đãi chính ==
Thời gian 20 năm cuối đời, Vạn Lịch Đế triệt để xa lánh vai trò của mình trong triều đình, hay trên thực tế là bãi công. NhàHoàng vuađế không nghe triều buổi sáng, không xem tấu chương thậm chí không gặp thần tử. Nhà vuaÔng cũng không thèm quan tâm đến việc bổ nhiệm nhân sự, việc này dẫn đến các chức vụ cao cấp của triều đình bị thiếu khuyết, ảnh hưởng đến đất nước. Tuy nhiên, nhàHoàng vuađế lại đặt sự tập trung vào việc kiến tạo lăng mộ cho bản thân, một lăng mộ nguy nga hùng tráng mà mất thập kỉ mới hoàn thành.
 
Không còn ai ngăn cản, Vạn Lịch thả sức ăn chơi. Ông cho khôi phục những chức quan mà Trương Cư chính đã bãi miễn trước đây. Vua tiếp tục cho trọng dụng hoạn quan để ăn chơi trác táng. Vạn Lịch tự vạch ra chế độ sinh hoạt cho riêng mình để tỏ ta uy lực của thiên triều. Ai mà can gián đều bị khép tội phải chết. Vạn Lịch mỗi đêm sau buổi dự triều rất mệt mỏi nên đều về cung uống rượu say khướt đến khuya rồi đánh đập các cung nữ. Vua còn học hút thuốc lá, chơi hoa và chim. Nhà Minh từ đó lại càng suy sụp.
 
KhôngNăm [[1614]], sinh mẫu của Vạn Lịch Đế là [[Hiếu Định thái hậu]] Lý thị qua đời, không còn ai ngăn cản, Vạn Lịch Đế thả sức ăn chơi. Ông cho khôi phục những chức quan mà [[Trương Cư chínhChính]] đã bãi miễn trước đây. VuaVạn Lịch Đế tiếp tục cho trọng dụng hoạn quan để ăn chơi trác táng. Vạn Lịch, tự vạch ra chế độ sinh hoạt cho riêng mình để tỏ ta uy lực của thiên triều., Aiai mà can gián đều bị khép tội phải chết. Vạn Lịch mỗi đêm sau buổi dự triều rất mệt mỏi nên đều về cung uống rượu say khướt đến khuya rồi đánh đập các cung nữ. VuaHoàng đế còn học hút [[thuốc lá]], chơi hoa và chim. Nhà Minh từ đó lại càng suy sụp.
Vạn Lịch còn viện cớ ''Long thể bất an'' để không phải tới triều đình. Ông từ chối tất cả các buổi triều kiến. Sứ giả các nước đến cũng không chịu ra gặp mặt. Từ đó các đại thần bắt đầu cởi mũ từ quan, Vạn Lịch cũng không thể hiện sự đau buồn gì, thậm chỉ vua còn cho các quan tự do từ chức. Năm 1602, hiện tượng thiếu quan lại trong triều Minh lên tới đỉnh điểm, vị trí nào cũng thấy thiếu người.
 
Vì suốt ngày chỉ lo ăn chơi xa xỉ và háo sắc nên sức khỏe của Vạn Lịch Đế ngày một suy nhược, suốt ngày chỉ tiêu tiền cho hoang phí, quốc khố ngày càng cạn kiệt. Khởi nghĩa nông dân bắt đầu nổ ra., Vạn Lịch Đế thường cho những lực lượng rất lớn để đánh dẹp những cuộc khởi nghĩa nhỏ. Như vậy hoàng đế đã tự tiêu hao nhân lực của mình.
 
Có vài lý do để giải thích cho việc Vạn Lịch cố tình lãng quên trách nhiệm của mình khi làm Hoàng đế. Một trong số đó là việc bị tấn công về mặt đạo đức dựa trên tư tưởng [[Nho gia]] chính thống của quan lại. Một việc nữa là việc tranh chấp quyền thừa kế ngai vàng. NhàHoàng vuađế có sủng phi là Hoàng quý phi Trịnh thị, sinh ra được hoàng tử thứ 3 là [[Chu Thường Tuấn]] (朱常洵). Vạn Lịch Đế rất muốn lập người con này làm [[Hoàng thái tử]], nhưng bị sự phản đối kịch liệt của quan lại những người mang tư tưởng Nho gia và lấy cớ tổ tông đặt ra quy củ lập trưởng không lập thứ.
 
Cuộc tranh chấp giữa hoàng đế và quan lại kéo dài 15 năm, cuối cùng vào năm [[1601]] Vạn Lịch đầu hàng, chấp nhận lập con trưởng [[Chu Thường Lạc]] làm [[Hoàng thái tử]]. Việc Vạn Lịch chán ghét con trưởng nên đối xử hà khắc với con, thậm chí ngay cả cháu nội mình là Chu Do Hiệu ([[Minh Hy Tông]] sau này) khi lớn lên cũng không được học chữ, trở thành hoàngHoàng đế mù chữ đã ảnh hưởng trực tiếp tới sự cai trị của nhà Minh. Chu Thường Lạc thì cố sức ăn chơi cho bõ những ngày tháng gian khổ, mới ở ngôi 1 tháng thì băng hà, Chu Do Hiệu thì giao hết quyền cho hoạn quan, để mặc hoạn quan tàn sát trung thần và nhiễu loạn đất nước. Mặc dù các quan lại đại thần nhìn như đã thắng trước hoàng đế, Vạn Lịch trả đũa bằng cách sử dụng một chính sách phản kháng thụ động, ông từ chối thực hiện trách nhiệm của mình với đất nước đã làm cho triều đình không thể vận hành thỏa đáng, điều này đã làm cho nhà Minh xuất hiện những vấn đề cả ở trong nước và ngoài biên giới.
 
Tuy không lập được con thứ làm [[Hoàng thái tử]], nhưng sự sủng ái của Vạn Lịch Đế với Chu Thường Tuấn không giảm bớt, nhà vuaông phong cho con làm Phúc vương, đất phong ở [[Lạc Dương]], [[Hà Nam]]. Chu Thường Tuấn giống như cha mình, suốt ngày chỉ biết ăn chơi và vơ vét của cải nhân dân, đương thời nói rằng nhà Phúc vương còn giàu hơn cả quốc khố Đại Minh. Vì chỉ biết hưởng thụ nên người Phúc vương béo mập, di chuyển khó khăn. Tương truyền lúc [[Mãn Thanh]] nhập quan, Phúc vương vì quá to béo nên không chạy trốn nổi, bị quân Thanh bắt được, quân Thanh liền đem ông ta giết đi rồi lấy mỡ làm dầu đốt đèn, dùng mãi không hết.
 
Thời Vạn Lịch đếĐế trị vì, đã xuất hiện mầm mống liên quan tới [[chủ nghĩa tư bản]], [[kinh tế]] [[thị trường]] bắt đầu đổi mới, [[khoa học kĩ thuật]] bắt đầu phát triển nhanh hơn. Nhưng cũng vì thế, Vạn Lịch đế bắt đầu đi vào lối sống của người hiện đại, tiêu tiền như bùn rác. Quốc khố sạch trơn. Vạn Lịch đế cũng chứng kiến các [[nhà truyền đạo]] [[Thiên Chúa giáo]] đầu tiên ở [[Bắc Kinh]], [[Matteo Ricci]]. Ông đã mời Ricci về Bắc Kinh ở, Ricci ở đó tới năm 1610 thì mất.
 
Chính vào lúc này ở đông bắc nhà Minh đã xuất hiện điều mà sau này gọi là sự trỗi dậy của người Mãn Châu. Năm [[1616]], [[nhà Hậu Kim]] tiêu diệt [[nhà Bắc Nguyên]] và sai sứ sang nhà Minh giao hảo, lúc đó [[Nỗ Nhĩ Cáp Xích]] phát hiện nhà Minh đã suy yếu nên kế hoạch tiêu diệt nhà Minh sắp được thực hiện. Nỗ Nhĩ Cáp Xích sau đó tuyên bố "Thất đại hận", trực tiếp cử quân tấn công nhà Minh. Vào lúc này, sau 20 năm triều đình không hoạt động, quân đội nhà Minh đã mất đi sự hùng mạnh và tính kỷ luật, trong khi đó, quân Nữ Chân tuy ít hơn nhưng lại là các chiến binh dũng mãnh và khát máu. Trong trận Sa Nhĩ Hử năm 1619, quân Minh điều 20 vạn quân để chống lại quân xâm lược Nữ Chân chỉ có 6 vạn. Nỗ Nhĩ Cáp Xích đích thân chỉ huy 6 kỳ cùng 45,000 quân ở chính giữa, còn [[Đại Thiện]] và [[Hoàng Thái Cực]] mỗi người chỉ huy 1 kỳ và 7,500 quân ở 2 cánh. Sau 5 ngày giao chiến, quân Minh thua trận, tử thương hơn 10 vạn người, 7 phần 10 lương thảo bị quân Hậu Kim cướp được. Nhà Minh đã chẳng thể phục hồi sau thảm họa này.
== Gia quyến ==
* Cha: [[Minh Mục Tông|Mục Tông Trang hoàng đế]] Chu Tái Hậu.
* Mẹ: [[Hiếu Định thái hậu|Hiếu Định hoàng hậu]] Lý thị (孝定皇后李氏, 1540 - 1614), [[phi tần]] của Mục Tông, sau khi Vạn Lịch lên ngôi tấn tôn thành ''Từ Thánh hoàng thái hậu'' (慈圣皇太后). Thái hậu giáo huấn Vạn Lịch Đế rất nghiêm, mỗi khi Hoàng đế sai phạm đều bắt quỳ rất lâu. Có lúc bà có ý định phế truất Vạn Lịch. Khi Hoàng đế cai trị còn nhỏ tuổi, bà quyết định tham chính.
* Hậu phi:
# [[Hiếu Đoan Hiển hoàng hậu]] Vương thị (孝端顯皇后王氏, 1564 - 1620), người [[Chiết Giang]], cha là Vĩnh Niên bá [[Vương Vĩ]] (永年伯王偉).
4.842

lần sửa đổi