Khác biệt giữa các bản “Trần Nhân Tông”

 
== Thân thế ==
ÔngNhân Tông hoàng đế tên thật là '''Trần Khâm''' (陳昑), là con trai trưởng của [[Trần Thánh Tông]], mẹ là [[Thiên Cảm hoàng hậu]] Trần Thiều, sinh ngày [[11 tháng 11]] âm lịch năm [[Mậu Ngọ]], niên hiệu Thiệu Long năm thứ 1 (tức [[7 tháng 12]] năm [[1258]]). Ông là con trai trưởng của [[Trần Thánh Tông|Thánh Tông Tuyên Hiếu hoàng đế]] Trần Hoảng, mẹ là [[Thiên Cảm hoàng hậu|Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng hậu]] Trần Thiều, con gái của An Sinh đại vương [[Trần Liễu]].
 
Ngay từ khi sinh ra, ông được tả là ''"được tinh anh thánh nhân, thuần túy đạo mạo, sắc thái như vàng, thể chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng"'', và cha mẹ ông gọi ông là ''Kim Tiên đồng tử'' (金仙童子).
 
Năm [[1274]], [[tháng 12]], ông được sách phong làm [[Hoàng thái tử]], lấy con gái trưởng của Hưng Đạo vương [[Trần Quốc Tuấn]] làm [[Hoàng thái tử phi]]. Sau đó, Thánh Tông cho chọn người nho học có đức hạnh trong thiên hạ vào hầu Đông Cung<ref>Còn gọi là Trữ Cung, là nơi ở của Hoàng thái tử</ref>. Theo đó, [[Lê Phụ Trần]] làm [[Thiếu sư]], kiêm ''Trữ cung giáo thụ''<ref>Trữ cung giáo thụ là chức thày học của thái tử</ref>. lấy [[Nguyễn Thánh Huấn]], [[Nguyễn Sĩ Cố]] sung ''Nội thị nội thị học sĩ''. Thánh Tông còn tự làm thơ để dạy Thái tử và viết [[Di hậu lục]] gồm 2 quyển.
 
== Cai trị ==
4.842

lần sửa đổi